HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN

HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯ LIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TƯ LIỆU. Hiển thị tất cả bài đăng

13 thg 4, 2014

Tình dục tác động đến sự phát triển của văn minh nhân loại


Review sách “Sex, Time and Power” – Tình dục tác động đến sự phát triển của văn minh nhân loại

Leonard Shlain, tác giả của “Nghệ thuật và Vật lý” (đã được Book Hunter giới thiệu) vốn là một bác sĩ, ông đã thể hiện những hiểu biết về cơ thể con người kết hợp với khảo cổ để lý giải một số lỗ hổng trong cậu chuyện tiến hóa của loài người  trong quyển “Sex, time and power”. Ông cho rằng trong quá trình tiến hóa: người phụ nữ khó đẻ, dẫn đến phát triển khả năng nói không với tình dục, dẫn đến hàng loạt thay đổi.


Đặt vấn đề:
Đàn ông có tỉ lệ hồng cầu nhiều hơn phụ nữ 15%.
Phụ nữ không thể biết họ thiếu sắt. Rất nhiều phụ nữ mang thai mặc dù ăn uống đủ vãn thiếu. Vì sao lại không có cơ chế báo động giống như báo động thiếu muối, nước…. Điều này không hề có ở các loài động vật có vú khác khi mang thai.
Phụ nữ cần nhiều sắt hơn đàn ông. Lời giải thích (đàn ông to lớn hơn, hoạt động nhiều hơn) là không đúng.
Chính những điều trên đã dẫn đến quá trình tìm hiểu của tác giả về sắt, phụ nữ, …
Thuyết của tác giả: sự khác biệt về tỉ lệ sắt giữa hai giới tính chính là động lực đằng sau rất nhiều bước tiến hóa của xã hội loài người. Tác giả sẽ kết nối nghệ thuật, lịch, hôn nhân,…, liên kết giữa trăng và kinh nguyệt, giới tính và cái chết, đám ma và sự nuôi nấng của bố mẹ…
Giả định: Chọn lọc tự nhiên hoạt động như một thể chế thông minh với mục đích và khả năng nhìn xa. Chọn lọc tự nhiên dùng chung cho cả chọn lọc tồn tại và duy trì nòi giống.
         Phần I: Sắt, tình dục và phụ nữ 
Chương 1: Unknown mother/ African eve
Hominids –Người vượn: là linh trưởng đầu tiên đi bằng hai chân. Bộ não lớn giúp thông minh hơn động vật ăn thịt (vì không thể chạy nhanh hơn)
Xương chậu phải  chịu thêm một trọng trách đặc biệt là chịu áp lực, giữ cho con khỏi rơi ra ngoài, vì vậy xương chậu duy trì kích thước nhỏ.
Khi bộ não tiến hóa dần to lên, người vượn ngày càng khó khăn khi sinh con. 150 000 năm trước đây, não người vượn phát triển đột biến, tăng thêm 1/3 dẫn đến tỉ lệ tử vong khi sinh của cả mẹ và bé tăng mạnh. Được ghi nhận trong ngành khảo cổ học.
Thời điểm xuất hiện sự tiến hóa “punctuated equilibrium”, gần như tạo ra một loài mới.
Tại Đông phi, cách đây 150 000 năm, xuất hiện homo sapiens sapiens – người tinh khôn.
Tác giả giả định chính việc sinh đẻ khó khăn đã là động lực cho sự tiến hóa này, không phải động lực bên ngoài như khí hậu hay địa chất..
65609_408046525959669_539456560_n
Chương 2: Big brain/ Narrow Penis
Cách đối phó thông thường đối với tai họa trên: Hoặc phát triển hông lớn hơn, đi chậm hơn, hoặc đứa bé não nhỏ đi. Không điều nào diễn ra.
Vì sao không có thay đổi này mà loài người vẫn tồn tại và phát triển? Lợi ích của não lớn vào thời điểm đó là gì?
Ngôn ngữ, kĩ thuật đi săn phát triển rất lâu sau khi xuất hiện sự đột biến này. Vì vậy đây không phải lợi ích trực tiếp của não lớn. Vậy vì sao dị biến não lớn vẫn tồn tại?
Sự thay đổi mà chúng ta có thể đồng ý với nhau: xương nhẹ hơn, dễ tổn thương hơn, hộp sọ dễ thay đổi.  Tuy nhiên điểm thay đổi mạnh nhất là độ lớn của hộp sọ, tăng tới 1/3 kích thước, từ 900cm2 lên 1400 cm2.
Não là thứ tiêu tốn rất nhiều năng lượng và khoáng chất để hoạt động. Vì sao cần não lớn? Người vượn với não nhỏ hơn tránh thú dữ vẫn hiệu quả trong hàng triệu năm. Não lớn nhưng ngôn ngữ và kĩ thuật săn chưa xuất hiện ngay. dẫn đến nếu không phải là để săn bắt hiệu quả thì sẽ có tác dụng với sex, nuôi con..
Sự biến đổi xuất phát từ nữ trước rồi mới khiến đàn ông thay đổi để đáp ứng lại. Sự không cân xứng về tiến hóa này tạo nên sự phân biệt, mâu thuẫn và không hiểu nhau, tình yêu, sự hợp tác của hai giới trong tương lai.
Gen của chúng ta thay đổi ít từ 150 000 năm đổ lại nên những yếu tố chính về đời sống sinh sản vẫn không thay đổi từ thời tiền sử, như chu kỳ kinh nguyệt, sự ham muốn về tình dục của đàn ông..
Một số thay đổi của phụ: không động dục rõ ràng, mức độ khoái cảm, mất máu nhiều khi hành kinh, chu kì kinh nguyệt khớp nhau, khớp với mặt trăng, khả năng từ chối sex.
Đặc biệt là khả năng từ chối sex: xuất phát từ sự phát triển của bộ não, giúp nhận ra mối quan hệ giữa tình dục và mang thai.
Chương 3: Reb blood/ white milk
Phụ nữ mất nhiều máu.
Sự độc lập của phụ nữ khiến đàn ông phải tìm cách để có tình dục. Cưỡng dâm không phải là giải pháp an toàn và bên vững dẫn đến không được chọn lọc.
6 nguồn mất sắt ra khỏi cơ thể phụ nữ:
-       Phụ nữ từ chối tình dục dẫn đến mất máu nhiều theo chu kì kinh nguyệt.
-       Phụ nữ cần sắt để nuôi bào thai. Khoảng 350 milligram sắt chuyển sang con, ngang nhu cầu 1 năm của người thường.
-       Khi đẻ, phụ nữ phải chịu vết thương lớn, mất nhiều máu.
-       Đứt mạch máu khi nhau thai tách khỏi thành tử cung.
-       Người mẹ không ăn bọc thai sau sinh.
-       Sắt trong sữa cho con bú. Dự đoán thời tiền sử, thời gian bú sữa mẹ kéo dài hơn 2 năm. Và còn nhiều nguyên nhân khác.
Người phụ nữ trung bình mất khoảng 15 gallon máu (57 lit máu)
Vậy đâu là lợi ích của việc mất máu và thiếu sắt này?
Chương 4: Plant Iron/ Meat Iron
Con người cần ăn thịt để có sắt. Đây là cách duy nhất. Phụ nữ cần bù sắt nhiều dẫn đến nhu cầu thịt cao hơn đàn ông.
Con người không hấp thụ được sắt trong cây. Chúng ta đã từ bỏ khả năng này.
Khi chuyển sang ăn thịt, ruột ngắn lại và cần ít oxi dẫn đến tăng oxi cho não. Càng được ăn nhiều thịt, càng thông minh.
390927_134125780030832_1381871648_n
Chương 5: Gyna Sapiens/ Gyna All-the-Others
Đặc tính kì lạ thứ nhất ở phụ nữ: động dục kín, cả nữ và nam không nhận ra dấu hiệu gì về sự rụng trứng.
Việc đứng thẳng và sử dụng quần áo càng thúc đẩy điều này.
Thuyết giải thích 1: Người bố ở nhà: động dục kín khiến cho đàn ông không biết thời điểm, nên ở nhà chăm sóc con. Tuy nhiên thuyết này không hợp lý ở chỗ sau khi đẻ con, vợ chồng giảm nhu cầu sex.
Thuyết giải thích 2: tránh việc giết con để phụ nữ lại sẵn sàng sinh đẻ trở lại. Tuy nhiên không hợp lý do chỉ loài người mới có động dục kín. Việc không biết thời gian động dục cũng không ngăn con đực giết con của con đực khác.
Thuyết giải thích 3: động dục kín dẫn đến sex quanh năm. Không đủ tính thuyết phục.
Đặc tính kì lạ thứ hai ở phụ nữ: rụng trứng và hành kinh cùng ngày với các phụ nữ khác trong đàn.
Tác dụng: tăng tự do khỏi sức mạnh của giới nam. Nam giới thống trị dù có mạnh đến đâu cũng không thể thỏa mãn mọi phụ nữ cùng 1 thời điểm dẫn đến nam giới bậc thấp hơn sẽ có cơ hội.
Chương 6: Period/ Perils
Việc hành kinh để lại nhiều dấu vết gây thu hút đv săn mồi.
Một hệ quả nữa: đàn ông không hành kinh dẫn đến có cảm giác chế ngự được thiên nhiên. Phụ nữ chấp nhận fate hơn đàn ông do cảm thấy bất lực không thể chế ngự được cơ thể mất máu.
Chương 7: Her Climax/ His climax
Cực khoái ở phụ nữ là một hành vi kì lạ. Nhiều cách lí giải đã được đưa ra.
Đàn ông có thể đạt cực khoái với mọi loại phụ nữ, nhưng phụ nữ chỉ có thể đạt cực khoái khi bên người mình yêu.
Rất ít các loài động vật có vú khác có biểu hiện về hệ tuần hoàn, mồ hôi, cử chỉ, biểu hiện cực khoái như ở phụ nữ – loài người.
Vấn đề: sự khác biệt về giai đoạn dễ cực khoái nhất.
Đàn ông: Lúc khá trẻ / Phụ nữ: ham muốn nhiều nhất vào sau 35 tuổi. Tuy nhiên đàn ông thích phụ nữ trẻ còn phụ nữ lại thích đàn ông già dặn.
Từ 20 dẫn đến 40, khả năng của đàn ông giảm còn của phụ nữ lại tăng.
Vấn đề 3: Đàn ông đạt khoái cảm nhanh hơn với phụ nữ lạ, phụ nữ thì ngược lại.
Vấn đề 4:  Phụ nữ có con rồi lại dễ đạt khoái cảm hơn,
Có rất nhiều thuyết lí giải vì sao có tiến hóa này:
Pole Ax: Cực khoái dẫn đến khó đứng dậy dẫn đến tinh trùng có thời gian bơi ngang, dễ hơn bơi lên trên.
Upsuck: Cử động cơ âm đạo khi cực khoái giúp tinh trùng đi lên nhanh và nhiều hơn.
Cuddle: Cực khoái giúp tạo kết nối giữa hai đối tượng.
Tác giả  thêm 3 lý do nữa:
  1. Cực khoái như là phần thưởng bù đắp lại rủi ro khi mang thai.
  2. Nhằm xác định được người đáng tin tưởng, giúp cô ấy trong quá trình mang thai và nuôi con. Người đàn ông đáng tin là người sẵn sàng hi sinh mong muốn nhanh gọn để nhằm thỏa mãn ng phụ nữ.
  3. Giảm đau đớn khi sinh sản.
Chương 8: Grandmothers/ Circumcision
Vì sao phụ nữ sau khi mãn kinh (hết khả năng sinh sản) lại vẫn sống lâu như vậy.
Thuyết về người bà: khi không còn khả năng sinh sản, phụ nữ dành tâm sức kiếm thức ăn, truyền kinh nghiệm cho con gái của mình.
Vì sao lại cắt bao quy đầu của nam giới.
Bao quy đầu lộn ra giúp dây thần kinh tiếp xúc được với bên ngoài dẫn đến nhạy cảm hơn, đạt cực khoái nhanh hơn. Cắt bao quy đầu sẽ giúp khoái cảm đến chậm hơn dẫn đến đàn ông có thể match được với giai đoạn của phụ nữ.
Người có khả năng kết nối được nguyên nhân và kết quả này chỉ có thể là người bà.
 Part 2: Sex, Iron and Men 
Chương 9: Prey/predator
Vượn người không phải mối đe dọa cho động vật. Nhưng người tinh khôn lại khiến nhiều loài tuyệt chủng. Sự săn bắn tăng đột biến. Vì sao con người lại tiến hóa sự khát máu này?
Con người đi săn để có tình dục
Những loài linh trưởng khác có thể sống ăn chay, vậy sao con người lại chọn cuộc sống giết chóc.
Trong mọi loài động vật, chỉ có con người đủ can đảm để săn loài có thể giết lại mình.
Khi phụ nữ nói không với tình dục, đàn ông phải tìm món quà để được đáp ứng lại. Từ đó lấy được can đảm để đi săn đv nguy hiểm.
Chỉ có con người khi đi săn mới không ăn luôn khi còn tươi mà lại xẻ ra, mang về, đưa cho người khác. Có những bộ tộc còn đưa quy định không được ăn thứ mình đã săn. Càng đem về nhiều thịt, người đàn ông càng được chú ý và càng có cơ hội được giao phối.
Chỉ có con người bị cuồng sex, có rape, tình dục với xác chết, với trẻ chưa vị thành niên … cho thấy sự ức chế về sex.
Thay vì đánh nhau, đàn ông chọn ra người giỏi nhất bằng việc đi săn đem thịt về. Theo thời gian, thịt chuyển thành tài nguyên, quyền lực, tiền. Bring back the bacon – thành ngữ phương Tây.
Khung cảnh ngày nay: bàn ăn, trên bàn có thức ăn – thịt, nến – lửa, đều là gợi lại ký ức từ thời hang động.
428484_459644027439067_1503955593_n
Chương 10: Carnivory/ Vegetarianism
Con người lấy hầu hết chất cần thiết từ thịt. Càng ăn thịt thì càng thông minh. Con người mất dần khả năng tiêu hóa và lấy các chất từ rau, khả năng tự tổng hợp chất (vitamin C), rồi cuối cùng trở thành loài kí sinh.
Nếu có đủ vitamin C, có thể tách và tiếp nhận sắt từ cây.
Mẹ thiên nhiên chọn chiến lược khó cho phụ nữ: không thể tự kiếm đủ lượng sắt và vitamin cần thiết dẫn đến phải dựa vào đàn ông.
Chương 11: Menarche/ Mustaches
Phụ nữ dậy thì trước đàn ông.
Khi dậy thì, có một vài chu trình hành kinh nhưng không có rụng trứng (anovulatory cycles) dẫn đến an toàn, không bị mang thai lúc dậy thì. Thời hiện đại, chế độ ăn đầy đủ và nhiều chất béo dẫn đến số chu trình này ít đi.
Con trai dậy thì tăng mức testosterone lên khoảng 20 – 40 lần, dẫn đến đầu óc chỉ có sex. Con gái từ lúc dậy thì đến lúc 35 tuổi thì nồng độ hooc môn sinh dục chỉ tăng 3 lần. dẫn đến phụ nữ không bị ám ảnh bởi sex mà có thời gian học hành vi của con trai và hiểu tâm lý của họ. Dần dần phụ nữ hiểu được thế mạnh của mình và bắt đầu phát triển khả năng nói không.
Khi dậy thì, phụ nữ cao lớn hơn đàn ông dẫn đến ở giai đoạn này có thể tự bảo vệ bản thân.
Não con trai khi dậy thì chưa có đủ myelin (khả năng kết nối) nhưng lại có quá nhiều testosterone dẫn đến hành động liều lĩnh, thích thể hiện.
Quá trình myelin hóa não: từ dưới lên, sau ra trước, phải sang trái. Phần vỏ não trước được myelin hóa muộn nhất dẫn đến logic, khả năng đánh giá rủi ro của đàn ông lúc dậy thì kém. Phụ nữ không phụ thuộc vào phần não này để đánh giá nhiều như của đàn ông, và cũng không bị thúc đẩy bởi hooc môn dẫn đến hành vi ít mạo hiểm hơn.
Chương 12: Premenstrual tension/ masturbatory tension
Cơ chế tự cân bằng nội môi của phụ nữ ảnh hưởng tới tâm lý ra sao
Khi rụng trứng, cơ thể phụ nữ tăng nhiệt độ, dẫn đến expose more skin, da hồng hào dẫn đến thu hút đàn ông.  Trong giai đoạn này phụ nữ lại thích đàn ông nam tính chắc chắn, còn trong phần còn lại của chu kỳ thì lại thích đàn ông hơi nữ tính hơn.
Khi chuẩn bị hành kinh, phụ nữ lại cần sắt dẫn đến tỏ ra aggressive về sex nhưng cũng không thích đàn ông trong thời điểm này. Lượng testosterone nhất thời tăng cao hơn estrogen và progesterone dẫn đến hành vi hung hăng hơn.
Vì sao đàn ông lại thủ dâm.
Để thay mới tinh trùng, cạnh tranh tốt với đàn ông khác? Không phải vì thủ dâm lại không hay diễn ra lúc trong giai đoạn cạnh tranh nhiều nhất.
Lý do chính: do level testosterone quá cao.
Part 3: Sex and Time
Chương 13: Moon/ Menses
Phụ nữ có chu kì kinh nguyệt trùng với chu kì mặt trăng, thời gian mang thai cũng là tổng của 10 lần chu kỳ mặt trăng. Điều này giúp phụ nữ có cảm nhận về thời gian.
Con người có vũ khí đi săn lợi hại là khả năng nhìn có thời gian, dự đoán trước được hành vi tương lai (foresight). Tuy nhiên cảm nhận về thời gian lại tới từ phụ nữ. Có mối liên hệ giữa moon, menses, time, metric.. trong nhiều ngôn ngữ. Trong nhiều truyền thuyết bắc âu, hindu, trí khôn của các vị thần lấy từ máu khôn, menstrual blood
Chu kỳ kinh nguyệt đóng vai chiếc đồng hồ, gây chú ý không thể bỏ qua. Phụ nữ tạo mối quan hệ giữa chu kỳ kinh nguyệt và mặt trăng. Phụ nữ chảy máu vào đêm không trăng và sinh con vào đêm có trăng sáng.
417741_277250105676078_366151484_n
Chương 14: Woo/ I do
Ngôn ngữ.
Phụ nữ chọn người đàn ông có khả năng giao tiếp hiệu quả. Người giao tiếp không hiệu quả bị loại bỏ. Ngôn ngữ là biểu hiện của trí tuệ, lắng nghe nhằm chọn lọc.
Con người thích nói trong bữa ăn. Từ Com-pan-ion = to share bread (latin). Người đàn ông ngồi ăn với phụ nữ dưới ánh nến, phụ nữ nghe đàn ông nói. Nhờ vậy người phụ nữ chọn được người đàn ông có khả năng hỗ trợ cô trong suốt quá trình mang thai và nuôi con. Cô tìm kiếm thêm các yếu tố như chăm sóc, bảo vệ, tình yêu và sự đồng hành.
Ngôn ngữ cũng giúp đàn ông tiếp cận với phụ nữ dễ dàng hơn, thân thiện hơn. Bình thường đàn ông nói ít hơn phụ nữ, nhưng trong dating, đàn ông lại nói nhiều hơn và hầu như không nghe.
Chương 15: Anima/ Animus
Nam tính (animus) – nữ tính (anima). – Jung.
Nam tính – bên tốt: loyalty, heroism, protectionNam tính – bên xấu: cruelty, violence, bullying
Nữ tính – bên tốt: Love, generosity, compassionNữ tính – bên xấu: cunning, masochism, passive aggression.
Vì sao lại tiến hóa ra người có thể có 2 tính, cả nam tính và nữ tính?
Trong thiên nhiên cũng có những loại có hoocmon giới tính khác thường, ví dụ như linh cẩu cái có quá nhiều hoocmon testosterone dẫn đến phát triển bộ phận sinh dục giống con đực. Hoặc cánh cụt hoàng đế đực lại có khả năng ấp trứng.
Tình cha là thứ mới được phát triển và lạ trong thiên nhiên. Trong các loài mà con đực có tính nữ, loài người là phát triển mạnh nhất. Lý do giáo dục từ môi trường chỉ là lý do phụ.
Ở giai đoạn 1 của sex, đàn ông phải tàn nhẫn hơn để giết thịt đem về trade. Tuy nhiên nếu chỉ có quà thì không giúp được gì. Đàn ông cần có sự mềm mại, nhũn nhặn, trở thành người chăm sóc. Phụ nữ cần một người có khả năng chăm sóc trong quá trình mang thai và nuôi con. Giai đoạn 2 là giao tiếp phá băng giữa 2 giới. Đàn ông cần suy nghĩ như phụ nữ.
Đàn ông nghĩ phụ nữ như chuyến đi săn, sử dụng các từ như bird, pursuing, fox..
Chương 16: Gay/Lesbian
Do mỗi người đều có yếu tố nam và nữ trong cùng cơ thể cùng 1 lúc.
Làm sao gen homosexual có thể tồn tại nếu người chứa nó ko muốn reproduce?
Đây là sản phẩm phụ của việc mỗi người có cả hai yếu tố. Trong mọi nhóm người, đều có khoảng 8 – 13% đàn ông và 5% phụ nữ có khả năng cao bị gay/les. 1 trong 10 người đàn ông có xu hướng gay trong ít nhất 3 năm trong khoảng thời gian từ 16 – 55.
Đàn ông gay có xu hướng sex dễ dàng, ít ràng buộc hơn phụ nữ.
Chương 17: Same sex/ Hermaphrodite
Thuyết số 8:
4 loại người đặc biệt xuất hiện trong các nhóm người, đều dao động ở mức 8% nam giới, đó là Gay, mù màu, thuận tay trái, và bị hói. 8% tương đương với 1 trong 12 người đàn ông. Tác giả tin rằng sự xuất hiện dị thường này là một biến đổi giúp con người có thể sống sót.
Gay tăng khả năng chăm sóc trẻ con của một đàn do giảm số người đẻ và tăng số người đi làm. Người gay cũng có khả năng sáng tạo tốt hơn mặt bằng chung.
Mù màu: nằm trên gen lặn trên NST X dẫn đến khó gặp ở phụ nữ. Người mù màu có khả năng nhìn thấy các con thú dễ dàng hơn do khả năng nhìn sự vật khác với người khác.
Thuận tay trái: giúp đi săn dễ dàng, ném phi lao chuẩn hơn nếu con thú chạy sang bên phải.
Trán hói: nhằm giúp ngụy trang khỏi con mồi tốt hơn, khó bị phát hiện hơn.
Part 4: death and paternity        
Cái chết và tình phụ huynh xuất hiện ra sao
Chương 18: Mortality/Angst
Sau khi con người biết về thời gian, con người có reason – biết về if – then. Từ đó có kiểu biết đặc biệt là wisdom – trí khôn. Trải qua thời gian, người đàn ông tiếp tục sử dụng if – then để đoán, khám phá thế giới, tích thêm trí khôn.
Tư duy trừu tượng if then  sử dụng chủ yếu não trái, có phương pháp lược giản hóa, phân tích theo các bước tuần tự, linear. Đây là có chế thúc đấy lý luận, logic, lý trí, nghệ thuật và khoa học.
Người đàn ông liên tục nhìn vào tương lai cho đến khi phát hiện ra sự thật: anh ta rồi sẽ chết.
Khả năng nhận biết thời gian chảy bắt đầu từ khi đứa trẻ ba đến ba tuổi rưỡi, bắt đầu sử dụng động từ có thời.
Một sự thức tỉnh bắt đầu đồng loạt cách đây 40 ngàn năm, xây mộ, chon cất người, các tín ngưỡng chon người chết. Không có sự phát triển kích thước não nào dẫn đến tại sao tất cả lại bắt đầu chon cất người?
Người phụ nữ chắc là giới nhận ra sự liên quan tới cái chết trước, nhưng thái độ của phụ nữ tới cái chết là chấp nhận nhiều hơn đàn ông. Phụ nữ thường vẽ hình tròn biểu tượng cho thời gian, còn đàn ông vẽ mũi tên. Phụ nữ tự tử nhiều hơn, đàn ông giết người nhiều hơn.
Phụ nữ kết nối với con suốt 9 tháng mang thai và biết được một phần của mình sẽ sống tiếp. Đàn ông bị ngắt kết nối với con và không biết điều này.
Chương 19: Superstition/Laughter
Chỉ có loài người mới phát sinh một số trạng thái tâm lý và hành vi như self – delusion ( tự huyễn hoặc), số mệnh, châm biếm, hài hước, tham lam, lo lắng, tham vọng, tự tử, sự hào hiệp, nghệ thuật.
Sự tự huyễn hoặc: chỉ có con người mới phát triển khả năng tưởng tượng thái quá, có thể tự lừa bản thân. Bắt đầu bằng niềm tin được định trước, ăn sâu, có thể không chính xác, sau đó mới là quá trình logic. Quá trình lập luận được sử dụng vào việc không nên: vẽ nên cuộc sống sau cái chết. Lập luận, lý do trở thành thứ hợp thức hóa sự tự lừa dối. Con người luôn cần phải ở trạng thái điên vì không ở trạng thái điên nghĩa là đang ở một trạng thái điên.
Khoảng 40 ngàn năm trước, người cổ dũng cảm đứng trong bong tối và quả quyết không ai thực sự chết. Tomb và womb đồng âm, tư thế trong quan tài giống tư thế lúc sắp sinh. Một thế giới của linh hồn xuất hiện khi con người nhận ra mình sẽ chết.
Sự tự huyễn hoặc còn diễn ra trong các tục tế người, hoặc cuộc giết chóc nhằm được cảm thấy đang sống (nazi).
Sự sợ hãi cái chết trở thành yếu tố thay đổi loài người. Quá nhiều sự tự huyễn hoặc dẫn đến cần thứ đấu lại dẫn đến sự châm biếm và hài hước xuất hiện, chống lại sự đoán trước được.
Đi cùng sự hài hước và sự tự huyễn hoặc là cuộc tìm kiếm mục đích sống, hành vi tự tử. Sự khao khát một mục đích để xác định cuộc đời một người tạo nên động lực làm một cái gì đó vừa thỏa mãn bản thân và vừa được xã hội chấp nhận dẫn đến sex, power, money, hoặc theo đuổi cái đẹp, tri thức, sự phục vụ, sự đắc đạo..
Tóm lại, con người chuyển nỗi sợ cái chết thành việc tạo nên lịch sử. Sợ chết nhưng tin tưởng vào kiếp sau và mong muốn để lại dấu ấn tạo nên người đàn ông can đảm.
Lòng tham không xuất hiện ở các loài động vật không có tay. Việc mang vác và giữ cho riêng mình tốn quá nhiều công sức. Con người lại có khả năng ôm giữ, đem đi xa. Tư hữu dẫn đến quyền lực, kéo dài sự tồn tại.
5631_537421179623282_1887439532_n
Chương 20: Father/Mother
Bằng chứng khảo cổ học cho thấy tri thức lớn thứ ba, có mức ảnh hưởng cũng lớn tới các giới tính, cũng diễn ra hầu như đồng loạt trong vài ngàn năm là liên hệ giữa tình dục và sinh con (nhận thức của người đàn ông)
Bằng một cách nào đó, người đàn ông nhận ra mình làm người phụ nữ mang thai và đẻ con, và người con này giống mình dẫn đến mình có thể duy trì sự tồn tại của mình thông qua đứa con trai. Việc chăm sóc đứa trẻ để đứa trẻ kéo dài sự tồn tại của mình là tình cha.
Đứa trẻ là đại diện, bộ mặt, được quyền nhận thừa kế.
Khi người đàn ông nhận ra chức năng của sex, mối quan hệ thay đổi.
Khó có nguyên nhân khác phát sinh trong giai đoạn này để tạo nên cách mạng về tư duy cho con người.
Chương 21 Incest/Dowries
Nhằm giúp người đàn ông biết chắc con của người phụ nữ là con mình, người đàn ông xác lập chế độ một vợ một chồng.
Đối với các cô con gái, người đàn ông nhấn mạnh không được have sex vì sẽ tạo ra bất hòa giữa những người phụ nữ dẫn đến rối loạn nhóm người.
Đem những người con gái trong nhóm đi trao đổi với các nhóm người khác, kiếm về người con gái của nhóm người khác cho con mình. Từ đây người đàn ông coi con gái là món hàng, và tới ngày nay vẫn dắt tay con gái trao cho người khác. Người tinh khôn (homo sapiens) thành người kinh tế (homo economicus).
Sự trao đổi kích thích tin tưởng, trao đổi kĩ năng, gen.
Việc trao đổi phụ nữ cũng khiến quyền lực của phụ nữ giảm.
Chương 22 Wife/Husband
Xuất phát từ thời gian, cái chết và quan hệ phụ huynh và con, người đàn ông và phụ nữ tự nguyện dẫn đến quan hệ hôn nhân chung thủy. Với khả năng nhìn sâu theo chiều thời gian, người phụ nữ nhận ra nhu cầu tương lai dẫn đến cần mối quan hệ chắc chắn, và đưa ra các tiêu chí cụ thể để chọn người đàn ông.
 Part V: Men and Women
Các tương tác xã hội khác phát sinh từ sex.
Chương 23 Misogyny/Patriarchy
Sauk hi phụ nữ phát triển được quyền năng, đàn ông luôn cố tìm cách giành lại quyền lực và làm mờ đi quyền lực của người phụ nữ. Các thiên vị và cơ cấu xã hội sinh ra như kết quả. 2 cái quan trọng nhất là sự khinh nữ và trọng nam. Hầu như các tôn giáo, quan điểm chính trị trên thế giới trong lục sử đều có xu hướng này (cho tới rất gần đây).
Người phụ nữ được gắn với thiên nhiên, hái lượm. Người đàn ông săn bắn, chính phục thiên nhiên. Vì giữ vai trò sinh con đẻ cái và khả năng sex mạnh mẽ, người phụ nữ có quyền lực hơn đàn ông. Bởi thế, dần dần, đàn ông sợ hãi quyền lực mà người phụ nữ được trao.
Chương 24 Unknown Mother/African Eve/Modern Woman
Về phim sex: 3 đặc tính: Không cần phải hỏi người phụ nữ để tham gia sex, không cần trao đổi gì, có thể rời đi khi xong. dẫn đến ảo tưởng mà người nào cũng muốn.
Về mỹ phẩm: người phụ nữ bị thuyết phục rằng cần mỹ phẩm để thu hút đàn ông.
Mẹ thiên nhiên sử dụng mỡ, đắp vào những chỗ kì lạ để khiến người đàn ông luôn bị thu hút vào cơ thể phụ nữ. (khả năng đặc biệt của săn bắn).
Nguyễn Phương Mạnh review

1 thg 3, 2014

Lối đi cho cây dược liệu



Lối đi cho cây dược liệu - Bài cuối: Hướng đến quy hoạch vùng
Thứ Sáu, 28/02/2014, 07:44 [GMT+7]
Cuối tháng 10.2013, Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 đã mở ra hướng đi mới cây dược liệu. Ở Quảng Nam, cây dược liệu đang được hướng đến quy hoạch vùng.

Người dân Tiên Phước thu hoạch cây dược liệu. Ảnh: T.NGA
Người dân Tiên Phước thu hoạch cây dược liệu. Ảnh: T.NGA
Nguồn thảo dược phong phú
Quảng Nam có các vùng tiểu địa hình và khí hậu khá đa dạng. Bởi vậy, trong thành phần các loài cây thuốc phát hiện cũng hội tụ đủ các yếu tố thực vật của các vùng. Trước đây, vùng dược liệu của tỉnh đã được điều tra, đánh giá trên diện rộng tại nhiều địa phương. Với sự phối hợp và giúp đỡ của Viện Dược liệu (Bộ Y tế), trong 2 năm 2002 - 2003, Quảng Nam đã điều tra và lập danh mục, xác định tên của 832 loài dược liệu, thuộc 190 họ thực vật. Trong đó, vùng Trà My có số lượng loài làm thuốc lớn nhất với 710 loài. Về tiềm năng trong việc cung cấp các loại dược liệu sử dụng theo kinh nghiệm của y học cổ truyền, có 43 loài và nhóm loài là những cây thuốc được sử dụng phổ biến và có giá trị kinh tế cao. Đặc biệt, qua các đợt điều tra về dược liệu, trên địa bàn tỉnh cũng đã phát hiện thêm 4 loài cây thuốc chưa có tên trong hệ thực vật Việt Nam cũng như danh mục cây thuốc Việt Nam, đó là: dù dẻ đỏ, khế đất, gờ rồng (theo tiếng Cơ Tu) và ba chạc lá đỏ. Riêng cây ba kích không phải là cây thuốc mới nhưng đây là cây thuốc quý đã được ghi nhận ở miền Nam Việt Nam, hiện được quy hoạch ở huyện Tây Giang. Ngoài ra, những cây thuốc quý hiếm khác của Quảng Nam cũng đã được đánh giá cao như sâm Ngọc Linh, đẳng sâm, ngũ vị tử, nữ lang, hoàng đằng, quế, lười ươi (ươi)… Tuy không chính thức điều tra sâu ở vùng đồng bằng ven biển, nhưng trên địa bàn Quảng Nam cũng đã tìm thấy một số loài được coi là tiềm năng như: mạn kinh biển, sa sâm nam, dành dành. Trong tổng số 832 loài cây thuốc đã phát hiện, có tới hơn 60% số loài mọc tự nhiên trong các quần xã rừng, đồi, nương rẫy và quanh làng bản. Số cây trồng thuộc nhóm cây ăn quả, cây lương thực, cây làm rau và cây cảnh… có bộ phận làm thuốc chỉ có khoảng 100 loài.
Thêm vào đó, nhu cầu sử dụng thảo dược ở địa phương khá lớn. Với mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh y học cổ truyền từ tỉnh đến xã, tỷ lệ bệnh nhân được khám chữa bệnh bằng phương pháp y học cổ truyền hiện nay đã chiếm đến 21%. Số người dân sử dụng cây thuốc để chữa bệnh ngày càng cao, đòi hỏi cần phải có lượng thảo dược lớn. Thống kê tại Bệnh viện Y học dân tộc tỉnh và các đơn vị khám chữa bệnh trong tỉnh cho thấy, số dược liệu dùng chữa bệnh mỗi năm gần 100 tấn. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát triển vùng dược liệu trên địa bàn tỉnh là rất cần thiết.
Lợi cả đôi đường
Định hướng bảo tồn và phát triển cây dược liệu theo hướng quy hoạch vùng sẽ không chỉ bảo vệ sức khỏe người dân mà còn đem lại hiệu quả thoát nghèo. Ông Nguyễn Văn Hai - Giám đốc Sở Y tế nói: “Để phát triển diện tích đảm bảo nguồn cung cấp, cần phát huy thế mạnh cây dược liệu, đầu tư công nghệ chế biến sau thu hoạch, xây dựng thương hiệu và tìm thị trường tiêu thụ ổn định. Đây là hướng đi đúng, có tính khả thi trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng nhằm đem lại lợi ích kinh tế cao, tăng tính ổn định bền vững. Làm điều này, Quảng Nam cần nguồn lực để bảo tồn và phát triển nguồn dược liệu quý hiếm ở địa phương mình. Trên cơ sở đã phân tích thực trạng phát triển ngành dược liệu, việc xây dựng đề án “Bảo tồn và phát triển cây dược liệu ở Quảng Nam giai đoạn 2013 - 2020” là hết sức cấp bách”.
Hiện nay Quảng Nam có 3 vùng cơ bản với các loại cây chủ lực: Trà Linh (Nam Trà My) đang trồng sâm Ngọc Linh; Tây Giang đang trồng cây ba kích, Tiên Phước với cây quế. Nghiên cứu của Viện Dược liệu thực hiện trên địa bàn Quảng Nam cho biết có 36 loài cây thuốc hiện nằm trong “Sách đỏ Việt Nam”, trong đó đáng chú ý là: sâm Ngọc Linh, ba kích, bảy hoa một lá, châu thụ, hoàng liên ô rô, ngân đằng, ngũ gia bì gai, cỏ nhung. Đề án bảo tồn cây dược liệu của tỉnh định hướng quy hoạch vùng khai thác và số lượng loài khai thác trong giai đoạn tới là 30 loài và quy hoạch 8 vùng khai thác theo vị trí địa lý. Nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế - Dược sĩ Đặng Ngọc Phái khẳng định: “Tôi hoàn toàn đồng ý với việc thành lập Trung tâm Phát triển sâm Ngọc Linh và dược liệu Quảng Nam. Đây là một hướng đi đúng đắn, bảo vệ nguồn tài sản vô giá sẵn có của tỉnh. Đây là cây thuốc điều trị các bệnh hiểm nghèo, là cây xóa đói giảm nghèo cho đồng bào miền núi cao”. Không chỉ riêng sâm Ngọc Linh hay cây ba kích, mục đích xây dựng Trại Dược liệu của tỉnh làm nơi tập trung, bảo tồn và trồng mới nhiều loài cây thuốc được thu thập ở nhiều địa phương khác nhau không chỉ bảo tồn mà còn phát triển nguồn gen thuốc quý. “Tuy nhiên, để triển khai có hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển vùng dược liệu trên địa bàn tỉnh cần có một lộ trình cụ thể. Đề án vẫn đang trong giai đoạn chờ được phê duyệt. Theo tính toán thực tế, đất trồng dược liệu cho giá trị kinh tế cao gấp 2 - 3 lần trồng lúa, trong khi việc chăm sóc lại nhàn hạ hơn. Phát triển trồng cây thuốc sẽ giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội” - ông Nguyễn Văn Hai nói.
TÂM AN
,

28 thg 8, 2013

“Đông y – Tây y như hai bàn tay người thầy thuốc”


Những hạn chế về công cụ chẩn đoán trong y học cổ truyền hay tình trạng lạm dụng thuốc trong y học hiện đại sẽ được khắc phục tối đa với sự kế thừa và chắt lọc tinh hoa từ hai nền y học. Đông – Tây y phối kết hợp chính là xu thế phát triển tự nhiên và tất yếu của các nền y học trên thế giới.
“Đông y – Tây y  như hai bàn tay người thầy thuốc”
Không chỉ châu Á, nhiều nước Âu, Mỹ đã bắt đầu xu hướng “trở về với tự nhiên” qua việc sử dụng ngày càng nhiều các loại thuốc có nguồn gốc cây cỏ hay các phương pháp điều trị của y học cổ truyền để dự phòng, chữa trị và nâng cao sức khỏe. Chỉ tính riêng ở Mỹ đã có khoảng 15 triệu người thường xuyên sử dụng các thuốc cây cỏ ở các mức độ khác nhau,với chi phí hàng năm lên tới 30 tỷ đô la.
Việt Nam có thể tự hào là một trong những quốc gia đi tiên phong xây dựng định hướng phát triển y học, y tế khoa học, đại chúng, kết hợp  cổ truyền và hiện đại. Y học cổ truyền Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong nền văn hóa cộng đồng các dân tộc, gắn liền với kinh nghiệm phòng chữa bệnh có lịch sử lâu đời, có nguồn dược liệu phong phú, phù hợp với điều kiện khí hậu, bệnh tật con người Việt Nam.
Từ cách đây hơn nửa thế kỷ (1955), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng phát triển ngành y tế Việt Nam hiện đại, khoa học, dân tộc, đại chúng, kết hợp chặt chẽ giữa hiện đại và cổ truyền. Chủ tịch nhấn mạnh, ông cha ta có nhiều kinh nghiệm quí báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta không kém gì thuốc tây. Ví dụ, thuốc ta có Sa nhân, Phụ tử chữa được nhiều bệnh, thuốc tây có aspirin, penixilin cũng chữa được nhiều bệnh. Bên nào cũng có ưu điểm, hai ưu điểm cộng lại thì chữa bệnh tốt cho đồng bào, nhân dân.
Do đó, thầy thuốc Tây phải học đông y, thầy thuốc ta cũng phải học thuốc tây. Thầy thuốc ta, thầy thuốc tây đều phải phục vụ nhân dân, như người có hai bàn tay cùng làm việc thì việc làm mới tốt.
Phát huy tinh hoa của hai nền y học
Ưu điểm  của nền “y học thuốc ta” là vận dụng sáng tạo triết học cổ phương đông vào chẩn trị. Vì thế, các thầy thuốc đông y luôn có cách nhìn người bệnh  toàn diện, từ đó có sự điều chỉnh, nâng cao sức đề kháng của cơ thể nhằm khắc phục bệnh tật; rất phù hợp với yêu cầu phòng trị nhiều bệnh lý mạn tính hiện nay.
Đặc biệt, thuốc và các biện pháp không dùng thuốc (dưỡng sinh, châm cứu xoa bóp, ẩm thực trị liệu…) đều có nguồn gốc tự nhiên, vốn quen thuộc, thân thiện với con người và luôn có sẵn ở mọi lúc mọi nơi, phần lớn ít độc, ít tác dụng phụ.
Dĩ nhiên, y học cổ truyền cũng có những hạn chế, đó là phần lớn các công cụ chẩn đoán, điều trị còn thô sơ, chưa được tiêu chuẩn hóa; phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân và biến đổi của điều kiện thiên nhiên. Đó cũng là lý do vì sao cho đến nay y học cổ truyền vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu ứng dụng rộng rãi, hiệu quả và kịp thời trong phòng trị các bệnh lý cấp tính,cấp cứu, lây nhiễm rộng và nhanh.
Y học hiện đại nhờ ứng dụng những thành quả công nghệ khoa tiên tiến của nhân loại  với các trang thiết bị hiện đại, các hóa dược mạnh, có thể chẩn đoán, can thiệp, điều trị kịp thời, có hiệu quả cao các bệnh lý cấp cứu, ngoại khoa, cấp tính, truyền nhiễm… thậm chí nếu cần thiết có thể cấy ghép, thay thế các bộ phận bệnh lý.
Tuy nhiên, hạn chế của y học hiện đại lại chính là việc người bệnh, thậm chí cả thầy thuốc dễ bị rơi vào tình trạng lạm dụng thuốc. Các dược chất bị lạm dụng vốn chưa từng có trong tự nhiên, xa lạ với cơ thể con người, đã và đang gây nhiều tác hại cho sức khỏe nhân loại…
Ngoài ra, sự phát triển quá nhanh, quá sâu của các chuyên khoa hẹp cũng là điều kiện thuận lợi cho khuynh hướng chỉ quan tâm tới chữa bệnh đơn thuần, coi nhẹ việc chăm sóc nhằm cải thiện khả năng tự điều chỉnh, tích cực, chủ động bảo vệ sức khỏe của người bệnh.
Chính vì thế, để đạt mục tiêu nâng cao sức khỏe, an toàn, hiệu quả, hiện đại, dễ tiếp cận trong khám chữa bệnh, xu hướng của các nước là kết hợp hai nền y học một cách toàn diện, chặt chẽ. Kết hợp hai nền y học chính là một bước nâng  cao của quá trình kế thừa, trong quá trình kết hợp mỗi nền y học cần chọn lọc, giữ lại những phần tinh hoa, loại bỏ, hạn chế những phần độc hại, lạc hậu, để xây dựng một nền y học thực sự vì con người, cho con người.   
Các hình thức kết hợp có thể vận dụng  trong khám chữa bệnh
1.      Khám, chẩn đoán, điều trị chủ yếu bằng y học cổ truyền, kết hợp với các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết của y học hiện đại, giúp nâng cao tính an toàn, hiệu quả của y học cổ truyền
2.      Khám chẩn đoán bằng cả y học cổ truyền và y học hiện đại, tùy theo mức độ, giai đoạn bệnh, để chọn lựa cách điều trị phù hợp cho từng giai đoạn, chủ yếu bằng y học hiện đại hay y học cổ truyền hoặc kết hợp cả hai
3.       Điều trị căn nguyên ,theo cơ chế bệnh sinh bằng y học hiện đại, kết hợp thuốc,các biện pháp không dung thuốc y học cổ truyền (châm cứu, xoa bóp,bấm huyệt, nhằm hạn chế tác  dụng phụ,  độc hại của thuốc đặc trị, hồi phục chức năng, nâng cao chất lượng sống của người bệnh (y học cổ truyền hỗ trợ điều trị ung thư,HIV/AIDS, hồi phục chức năng sau đột quỵ….)
4.       Điều trị căn nguyên ,cơ chế bệnh sinh chủ yếu bằng y học cổ truyền, kết hợp y học hiện đại khi có kèm theo bệnh lý cấp tính ,diễn  biến phức tạp (nhiễm trùng nặng )…
Có thể nói, việc kết hợp hài hòa hai nền y học trong khám chữa bệnh ngoài việc mang lại lợi ích cho người bệnh, còn góp phần xây dựng cơ sở thực tiễn và khoa học để xây dựng  các công nghệ cao, mới và đáp ứng nhu cầu thời đại. Việc này rất  cần sự phối hợp đồng bộ ,toàn diện giữa cộng đồng và các nhà hoạch định chính  sách, quản lý; lãnh đạo; các nhà đầu tư; các nhà thực hành y, dược cả cổ truyền và hiện đại .

                                                                                                                             Nguồn: VINMEC

15 thg 8, 2013

Thực liệu cổ truyền phương Ðông

Tác giả : Thạc sĩ HOÀNG KHÁNH TOÀN (Khoa Ðông y - Viện Quân y 108)

Trong mươi năm trở lại đây các phương pháp phòng trị bệnh và nâng cao sức khỏe của y học cổ truyền có liên quan đến ăn uống đã được đề cập khá nhiều trong sách báo và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bạn đọc dần được làm quen với các khái niệm như ẩm thực liệu pháp, ẩm thực dưỡng sinh, dược thiện, cháo thuốc, trà dược, rượu thuốc, món ăn - bài thuốc... Nhưng không phải ai cũng biết rằng tất cả các loại hình trị liệu này đều nằm trong một bộ phận cấu thành trọng yếu của nền y học cổ truyền phương Ðông được gọi là ẩm thực liệu pháp, nói tắt là thực liệu.

THỰC LIỆU LÀ GÌ?

Thực liệu, còn gọi là thực trị (dietetic therapy), là phương pháp căn cứ theo lý luận của y học cổ truyền tiến hành lựa chọn các thực phẩm phù hợp (đơn thuần hoặc phối ngũ với các vị thuốc) để gia công chế biến thành các đồ ăn thức uống, hướng dẫn rèn luyện thói quen và nếp vệ sinh ăn uống hợp lý nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Như vậy, theo quan điểm của y học cổ truyền, lương thực và thực phẩm không chỉ có tác dụng chủ yếu là nuôi dưỡng cơ thể mà còn có công dụng chữa bệnh. Hay nói cách khác, đồ ăn thức uống bản thân vốn dĩ đã mang đủ giá trị về cả hai phương diện "Dưỡng" và "Liệu" với mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau. Sách cổ viết: "Thực vật, bệnh nhân phục chi, bất dãn liệu bệnh, tính khả sung cơ. Bất dãn sung cơ, cánh khả thích khẩu. Dụng chi đối chứng, bệnh tự tiệm dụ, tức bất đối chứng, diệc vô tha hoạn" (Ðồ ăn thức uống không chỉ để ăn cho no mà còn dùng để chữa bệnh, dùng đúng thì bệnh tự khỏi dần).
Thực liệu học cổ truyền là một môn khoa học chuyên nghiên cứu về tác dụng và qui luật ứng dụng các đồ ăn thức uống trong việc phòng chống bệnh tật và bảo vệ sức khỏe con người. Khác với dinh dưỡng học và vệ sinh học hiện đại, thực liệu học cổ truyền lấy lý luận Ðông y làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu về tính vị, công năng, cách chế biến, cách ăn, kiêng kỵ, cách phối ngũ và chỉ định điều trị của các loại đồ ăn thức uống nhằm mục đích điều hòa khí huyết, cân bằng âm dương, phục hồi chức năng của tạng phủ kinh lạc. Ðồng thời còn hướng dẫn thực hành các liệu pháp dưỡng sinh ẩm thực, vệ sinh ăn uống hợp lý...

THỰC LIỆU CÓ TỪ BAO GIỜ?

Thực liệu cổ truyền phương Ðông đã có một lịch sử rất lâu đời. Ở Trung Quốc, truyền thuyết xa xưa đã kể chuyện Thần Nông, người phát minh ra nông nghiệp và Ðông dược, từng nếm hàng trăm cây cỏ làm thuốc và làm thức ăn để biết được tính vị của chúng. "Thần nông bản thảo kinh", cuốn sách thuốc cổ nhất còn lưu lại đến nay đã ghi lại 365 vị thuốc, được phân ra làm ba loại thượng, trung và hạ phẩm, trong đó đại bộ phận thượng phẩm chính là các loại lương thực, rau quả và thịt cá thường dùng làm thức ăn hàng ngày. Ðời Ðường, trong sách "Thiên kim yếu phương", y gia trứ danh Tôn Tư Mạo cũng đã dành một chương "Thực trị Thiên" để bàn về thực liệu và cuốn "Thực liệu bản thảo" của Mạnh Sằn với nội dung tổng kết những thành tựu về thực trị trước đó đã được coi là tác phẩm viết về thực liệu sớm nhất còn lưu đến ngày nay. Ðời Tống, Trần Trực đã bàn đến việc dùng dược thiện trị bệnh cho người cao tuổi trong sách "Dưỡng lão thân thân thư". Ðời Nguyên, cuốn "Ẩm thực chính yếu" của thái y cung đình Hốt Tư Tuệ là một tác phẩm nổi tiếng đề cập đến các vấn đề như ẩm thực dưỡng sinh, dinh dưỡng liệu pháp, vệ sinh ăn uống, ngộ độc thực phẩm, kiêng kị khi có thai... Rồi theo dòng chảy của lịch sử, các tác giả và tác phẩm bàn về thực liệu lần lượt ra đời như Chu Ðệ với "Cầu hoang bản thảo", Lý Thời Trân với "Bản thảo cương mục" (đời Minh), Cao Liêm với "Tuân sinh bát tiên", Vương Mạnh Anh với "Tùy tức cư ẩm thực phổ" (đời Thanh)...
Ở Việt Nam, ngay từ thời Hồng Bàng (2.900 năm trước Công nguyên), cha ông ta đã biết dùng thức ăn để làm thuốc. Tác dụng của củ gừng, củ tỏi... đã được phát hiện với mục đích làm cho các món ăn hết tanh, có mùi vị thơm ngon, ấm bụng và dễ tiêu, đã biết ăn trầu để chống lạnh và giữ cho răng bền chắc... Trong các tác phẩm của mình, Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông đã ghi lại nhiều loại ngũ cốc, thực phẩm dùng làm thuốc và có những kiến giải hết sức độc đáo về thực trị. Hai cuốn "Vệ sinh yếu quyết" và "Nữ công thắng lãm" của cụ Hải Thượng có thể coi là những tác phẩm nổi tiếng viết về thực dưỡng và thực trị.

THỰC LIỆU CÓ NHỮNG ÐẶC ÐIỂM GÌ?

Thực liệu cổ truyền phương Ðông tùy theo điều kiện lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, tập quán của mỗi dân tộc mà có những nét đặc sắc khác nhau, song đều chứa đựng những đặc điểm nổi bật sau đây:
- Nội dung rất phong phú: Vì có lịch sử hàng nghìn năm tồn tại và phát triển nên thực liệu cổ truyền đã tích lũy được một kho tàng kinh nghiệm rất lớn và quý báu. Hơn nữa, giữa các dân tộc, các quốc gia lại có sự giao lưu và trao đổi rộng rãi, đặc biệt trong những thế kỷ gần đây được bổ sung và soi sáng bởi dinh dưỡng học hiện đại nên nội dung của nó ngày càng phong phú và có sự chuyển biến về chất.
- Hệ thống kết cấu hoàn chỉnh: Thực liệu cổ truyền không chỉ đề cập đến việc trị liệu bệnh tật mà còn bao gồm cả các vấn đề như thực dưỡng, vệ sinh ăn uống, ẩm thực kiêng kỵ, ẩm thực bảo kiện, ẩm thực bào chế... Tất cả tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh.
- Cơ sở lý luận vững chắc: Thực liệu cổ truyền không chỉ là những kinh nghiệm thực tiễn đơn thuần mà còn là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền y học cổ truyền Ðông phương, được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận Ðông y vững chắc. Cũng như các vị thuốc, đồ ăn thức uống cũng có tính vị cụ thể, qui kinh rõ ràng, phương thức sử dụng biện chứng dựa trên cơ sở lý luận âm dương, ngũ hành, tạng phủ kinh lạc, tứ chẩn bát cương...

NGUYÊN TẮC CHỦ YẾU CỦA THỰC LIỆU LÀ GÌ?

Thực liệu cổ truyền có bốn nguyên tắc chính:
1/Ẩm thực hữu điều: Nghĩa là ăn uống phải điều độ, hợp lý, không thái quá, không bất cập. Trong "Vệ sinh yếu quyết", Hải Thượng Lãn Ông đã dẫn lời của cổ nhân: "Người biết dưỡng sinh thì uống trước khi khát nhưng không uống quá nhiều, ăn trước khi đói nhưng không ăn quá no. Nên ăn ít mà ăn nhiều lần, không nên ham ăn nhiều mà khó chịu. Thường nên để trong cái no có một chút đói, chứ không nên để trong cái đói có một chút no".
2/Biện chứng thi trị: Nghĩa là phải xem xét tỉ mỉ, tùy thể chất, chứng trạng, mạch tượng... mà phân biệt âm dương, biểu lý, hàn nhiệt, hư thực rồi trên cơ sở đó chỉ định lựa chọn, chế biến, sử dụng đồ ăn thức uống cho phù hợp. Ví dụ: Người có chứng tỳ vị hư hàn thì phải trọng dùng đồ ăn có tính ấm nóng, người bị liệt dương thể âm hư thì phải trọng dùng đồ ăn thức uống có công năng dưỡng âm...
3/Dược thiện kết hợp: Nghĩa là trong việc trị bệnh và bảo kiện sức khỏe phải chú ý kết hợp chặt chẽ giữa ăn uống và dùng thuốc một cách hợp lý tùy theo tính chất và giai đoạn bệnh lý. Cổ nhân có nói: "Dược thực đồng nguyên", "Ngụ y vu thực". Cũng cần phải thấy rằng thực liệu chỉ là một phương pháp trị liệu có tính phụ trợ, trong nhiều trường hợp nó không thể thay thế việc dùng thuốc đặc trị thường quy.
4/Tam nhân chế nghi: Nghĩa là tùy người (nhân nhân), tùy điều kiện địa lý và môi trường sống (nhân địa) và tùy mùa, tùy thời gian (nhân thời) mà lựa chọn, chế biến và sử dụng đồ ăn thức uống cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao nhất và phòng tránh các tác dụng phụ không mong muốn.