HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN

HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH NGHIỆM HAY.BÀI THUÓC QUÝ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH NGHIỆM HAY.BÀI THUÓC QUÝ. Hiển thị tất cả bài đăng

24 thg 5, 2014

Một số Bài Thuốc Trị Yếu Sinh Lý

Thuốc trị yếu sinh lý theo kinh nghiệm dân gian có nhiều trong tự nhiên. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc dược thảo trị yếu sinh lý từ nguồn thảo dược phong phú để bạn đọc tham khảo và áp dụng:
Bài 1: dâm dương hoắc 12g, ba kích 16g, sa sâm 16g, nhục thung dung 12g, câu kỷ tử 12g, đỗ trọng 8g, đương quy 8g, cam thảo 6g, đại táo 3 quả. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, ngâm với 1 lít rượu 35 - 40 độ (càng lâu càng tốt), uống trong vòng 1 tuần, ngày 2 lần, mỗi lần 15ml, có thể sắc với nước uống trong 3 ngày.
Cây và vị thuốc câu tích
Cây và vị thuốc câu tích
Bài 2: dâm dương hoắc 60g, phục linh 30g, đại táo 9 quả. Ba thứ hấp chín, phơi khô, làm như vậy 3 lần. Sau đó tán nhỏ, các dược liệu ngâm với 2 bát rượu trắng và 100g mật ong. Đậy kín (tốt nhất là dùng lọ rộng miệng có nút mài). Để một tháng rồi lấy ra uống, mỗi ngày 2 - 3 chén nhỏ. Dùng liền 3 tháng. Nếu sắc uống thì dùng dược liệu ít hơn.
Rễ cau
Rễ cau
Bài 3: rễ cau (loại rễ màu trắng mọc lộ ra trên mặt đất) 20 - 30g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.
Bài 4: rễ cau 8g phối hợp với ba kích 20g, thục địa 20g, hoài sơn 20g, sâm bố chính 40g, quế thanh 8g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sao vàng (trừ quế), tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mật hoặc sirô làm thành viên to bằng quả táo. Ngày uống 5 viên trước khi đi ngủ. Dùng liền trong 1 tháng.
Bài 5: ba kích 100g, tắc kè 50g, hà thủ ô đỏ 100g, hoàng tinh hoặc thục địa 100g, đại hồi 10g. Tắc kè ngâm với đại hồi trong rượu 35 độ để được 350ml. Các dược liệu khác cũng ngâm rượu 35 độ trong 10 - 15 ngày để được 700ml. Hòa lẫn hai rượu với nhau, thêm 100g đường kính (đã nấu thành sirô) để được 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 - 20ml sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ.
                                                                                    Theo BS. Hữu Bảo - Sức khỏe và Đời sống

27 thg 10, 2013

Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên.

Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên
Ngọc trai và nhân sâm - “Thần dược” cho làn da tinh khiết

Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên.

Thứ Năm, ngày 24/10/2013 08:00 AM (GMT+7)
Những nguyên liệu quý từ thiên nhiên là một nguồn vô tận các phương pháp làm đẹp mà chị em đôi khi chưa khám phá hết.
Những bí quyết làm đẹpchăm sóc dagiảm cân, kinh nghiệm trang điểm, địa chỉ thẩm mỹ viện, luôn được cập nhật mỗi ngày tại Lam dep 24H
1. Nhân sâm – “Thần dược” cho làn da tinh khiết
Làn da của phụ nữ Hàn Quốc cứ đẹp tự nhiên dù ở độ tuổi đôi mươi hay đã trưởng thành.  Ngày nay, nhân sâm vẫn là món quà diệu kì từ thiên nhiên. Đặc biệt với phụ nữ Hàn, đây chính là “thần dược” giúp làn da khỏe mạnh bên trong lẫn bên ngoài. Nhân sâm không chỉ cung cấp dưỡng chất tốt nhất trong việc hồi phục sức khỏe mà còn giúp tái tạo làn da tối màu, làm đẹp và trắng da.
Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên - 1

2. Hoa nghệ tây và công dụng làm trắng bất ngờ
Nghệ tây thuộc họ hoa diên vĩ, vốn là nguyên liệu quý trong chăm sóc sắc đẹp. Nếu bạn muốn có được làn da trắng hồng trong một thời gian ngắn, bạn có thể sử dụng nghệ tây như một bí quyết hoàn hảo. Nghệ tây có thể được dùng kèm với sữa, bột nghệ, nước chưng cất từ cánh hoa hồng tươi để tạo thành những công thức giúp dưỡng trắng da.
Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên - 2

3. Ngọc trai đâu chỉ để làm trang sức
Nếu phái đẹp của Hàn Quốc chuộng nhân sâm thì ở Nhật Bản, các cô gái lại ưu tiên dùng ngọc trai cho phương pháp dưỡng trắng da của mình. Với thành phần chủ yếu là canxi, protein, các nguyên tố vi lượng và axit amin, Ngọc trai đã được khoa học chứng minh có tác dụng tái tạo làn da, tăng cường collagen và độ đàn hồi cho da. Đặc biệt, bột ngọc trai luôn được chị em tin dùng nhờ làm mờ các sắc tố đen sạm của da, làm trắng từ sâu bên trong và duy trì làn da mịn màng.
Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên - 3

4. Tổ Yến – Mỹ vị của giới thượng lưu
Là một loại thực phẩm được xếp hàng “cao lương mỹ vị”, tổ yến nổi tiếng không chỉ vì công dụng bồi bổ cơ thể mà còn nhờ khả năng làm trắng hồng làn da chị em phụ nữ. Yến sào cực kỳ giàu chất đạm với 19 loại axit amin tạo điều kiện cho các tầng biểu bì tăng trưởng dồi dào, chính là yếu tố giúp tế bào mô và da phát triển hồng hào và khỏe mạnh.
Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên - 4
5. Da trắng hồng nhờ hạt phấn của những chú ong
Mỗi hạt phấn hoa (được các chú ong hút từ nhụy hoa) có chứa 22 loại axit amin, 14 loại vitamin, 18 loại men thiên nhiên và nhiều hoạt chất sinh học khác. Nhờ giá trị dinh dưỡng cao, phấn hoa là một vị thuốc giúp bồi bổ cơ thể cũng như có tác dụng rất tốt trong việc trẻ hóa làn da và dưỡng da trắng hồng hiệu quả.
Trắng da với 5 dược liệu quý từ thiên nhiên - 5
Những nguyên liệu quý từ thiên nhiên là một nguồn vô tận các phương pháp làm đẹp mà chị em phụ nữ đôi khi chưa khám phá hết.
(Nguồn: Công ty T&A Ogilvy)

10 thg 9, 2013

Một số bài thuốc trị chai chân






Chai chân (clavus), hay còn gọi là mắt cá chân, là tình trạng tăng sinh dày lớp thượng bì nhất là lớp sừng, thường gặp ở các điểm tì ép nhiều trong lòng bàn chân như gót chân, các điểm đối diện với ngón chân 3 và 5, có khi ở lưng ngón chân. Tổn thương nổi thành từng đám dày sừng, màu vàng sẫm, ở giữa có ‘‘nhân’’, ấn vào đau chói. Bệnh không nguy hiểm nhưng gây nhiều phiền toái vì ảnh hưởng đến việc đi lại do đau đớn, đặc biệt là mắt cá ở gót chân.
Để chữa trị bệnh này, Tây y thường băng mỡ salixilic 5 - 20%, gọt bỏ lớp sừng, đốt điện hoặc khoét bỏ bằng phẫu thuật nhưng chỉ mang lại kết quả tạm thời, nhiều khi vẫn tái phát hoặc để lại sẹo xơ hóa to hơn, ấn vào vẫn đau chói.

Trong Đông y, chai chân thuộc phạm vi các chứng bệnh như: nhục chích, kê nhãn..., được xử lý đơn giản bằng một số phương pháp như:

Hồng hoa 3g, địa cốt bì 6g, tán bột trộn với dầu vừng và một chút bột mì thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương.

Ô mai 30g sấy khô, tán vụn, đem ngâm với 250ml giấm chua trong 2 tuần rồi lấy dịch thuốc bôi vào tổn thương mỗi ngày 3 lần.
Trần bì 15g, cẩu tích 30g, uy linh tiên 30g, địa phu tử 30g, hồng hoa 10g, sắc lấy nước ngâm chân khi còn nóng, mỗi ngày 2 lần. Mỗi thang có thể dùng 3 - 4 lần.

Tổn thương chai chân.

Bột huyết kiệt 5g, bột đá vôi lượng vừa đủ, hai thứ đem hòa với 100ml nước muối đặc thành dạng cao rồi đắp lên tổn thương, dùng băng y tế cố định trong 24 giờ. Sau đó tháo băng, gỡ bỏ cao thuốc, bóc hết chai rồi dùng mật quạ bôi một lớp mỏng trong 24 giờ. Một nghiên cứu của Trung Quốc tiến hành trên 100 ca đều đạt kết quả tốt.

Giấy cũ nát 30g đem ngâm với 50ml rượu tốt, sau 7 ngày thì dùng được. Trước tiên gọt bỏ lớp sừng dày rồi bôi dịch thuốc, mỗi ngày 2 lần, chừng 7 ngày thì khỏi.

Trước tiên, rửa sạch tổn thương, sát khuẩn bằng cồn y tế rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Sau đó, lấy lá lô hội tươi thái phiến mỏng đắp lên tổn thương và dùng băng cố định, mỗi ngày thay thuốc 2 lần, làm liên tục cho đến khi khỏi.

Phèn phi 10g, hoàng đan 10g, phác tiêu 10g, ba thứ tán bột, trộn đều. Trước tiên, dùng mũi dao khoét 1 lỗ ở trung tâm tổn thương (chú ý không làm chảy máu), sau đó dùng bột thuốc rắc đầy và cố định bằng băng y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.

Tỏi vỏ tím 1 củ, hành tươi 1 củ, giấm chua vừa đủ. Trước tiên, dùng cồn y tế sát khuẩn rồi lấy dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Tiếp đó, ngâm chân bằng nước muối trong 20 phút (200ml nước chín pha với 5g muối) rồi dùng tỏi và hành giã nát trộn với giấm chua đắp lên tổn thương, cố định bằng băng y tế, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thông thường 5 - 7 ngày là khỏi.

Ngô công sống (con rết) 1 con rửa sạch, giã nát đem trộn với 1,5g lưu hoàng rồi đắp lên tổn thương, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thường sau 3 - 4 lần là khỏi. Có thể thay lưu hoàng bằng băng phiến 1g.

Ô mai 30g, muối ăn 3g, giấm lâu năm lượng vừa đủ. Ô mai đem ngâm vào nước muối trong 1 ngày rồi bỏ hạt, giã nát, trộn với giấm thành dạng hồ và đắp lên tổn thương, mỗi ngày thay thuốc 1 lần, thường sau 3 lần là khỏi.

Trước tiên, ngâm chân bằng nước ấm rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày. Sau đó, lấy mật quạ bôi lên tổn thương, dùng băng cố định bên ngoài, 3 - 4 ngày thay thuốc 1 lần.

Ngô công sống 1 con, dầu vừng lượng vừa đủ. Đem ngô công ngâm vào dầu vừng trong 2 ngày rồi lấy ra giã nát và đắp lên tổn thương, thường sau 1 đêm lớp chai chân sẽ bong ra.

Lấy 1 miếng sáp ong đắp lên tổn thương rồi dùng băng cố định bên ngoài, thường sau vài ngày lớp chai chân sẽ bong ra, nếu 1 lần chưa có hiệu quả thì làm thêm 1 lần nữa.

Lấy 30g phá cố chỉ tán nhỏ đem ngâm với 100ml cồn 95% trong lọ thủy tinh, bịt kín miệng, mỗi ngày lắc đều 1 lần, sau 10 ngày thì dùng được. Trước tiên, sát khuẩn tổn thương bằng cồn y tế rồi dùng dao lam nhẹ nhàng gọt bỏ lớp sừng dày sao cho không chảy máu là được, tiếp đó dùng bông thấm dịch thuốc đắp lên vùng bị chai, cố định cho đến khi khô thì thôi, mỗi ngày làm 1 lần, thường sau 5 - 7 ngày là khỏi.

Khánh Hiển_suckhoedoidong.vn

9 thg 9, 2013

Phương thuốc cổ truyền trừ ho

Phương thuốc cổ truyền trừ ho với hơn 300 năm lịch sử

Thứ Ba 08:36 10/09/2013
Đến nay, với lịch sử hơn 300 năm, phương thuốc trừ ho Xuyên bối tỳ bà cao vẫn được các thế hệ thầy thuốc đông y kế thừa và truyền tụng. Đặc biệt, với công nghệ bào chế hiện đại, phương thuốc đã được phát triển và bào chế dưới nhiều dạng thuốc ho khác nhau, phục vụ nhu cầu trị bệnh của nhân dân. Phương thuốc được ghi chép, bảo tồn trong nhiều tài liệu y học chính thống, trở thành tinh hoa của nền y học cổ truyền phương Đông nói chung và nền y học dân tộc Việt Nam nói riêng.

Từ một truyền thuyết
Cách đây hơn 300 năm, vào triều đại nhà Thanh, Trung Hoa, dân gian truyền nhau câu chuyện cảm động về một vị quan tên là Ian Xyao Lian, nổi tiếng về tấm lòng hiếu thuận với cha mẹ. Một lần, phụ mẫu ông mắc chứng bệnh lạ. Bà ho dòng dã ngày này tháng khác mà không khỏi. Ông cho người tìm kiếm khắp nơi phương thuốc hay, bài thuốc quý, vời những vị danh y nổi tiếng về chữa trị, nhưng bệnh tình vẫn không hề thuyên giảm.

 

May thay, trong lúc tuyệt vọng, ông được một thần y ra tay cứu giúp. Vị thần y này đã lấy một loại cây được trồng phổ biến ở vùng đất Tứ Xuyên, có tên là Xuyên bối mẫu, kết hợp với mật ong và một số thảo dược khác, sắc lên cho bà lão uống. Bà lão kiên trì uống thuốc. Quả nhiên khỏi bệnh. Sức khỏe dần bình phục. Bà và con trai vô cùng phấn trấn, cảm tạ ơn cứu mạng của thần y, đồng thời bày tỏ tâm nguyện được phổ biến rộng rãi phương thuốc này để nhiều người được cứu chữa như bà. Bài thuốc được đặt tên từ 2 vị thuốc chủ đạo là Xuyên bối mẫu và Tỳ bà diệp, nên gọi là Xuyên bối tỳ bà cao. Nhờ công hiệu chữa trị được nhiều chứng ho khác nhau, kể cả những chứng ho dai dẳng lâu này không khỏi…phương thuốc đã được nhân dân khắp nơi truyền tụng, kế thừa từ đời này sang đời khác. Sau này, phương thuốc đã được chứng minh tác dụng thông qua các nghiên cứu khoa học hiện đại. Với kinh nghiệm sử dụng hơn 300 năm và những minh chứng khoa học, Xuyên bối tỳ bà cao được chuẩn hóa và đưa vào Dược điển Trung Quốc, trở thành bài thuốc chính thống, làm cơ sở cho nền công nghiệp Dược phát triển thành nhiều loại dược phẩm khác nhau.

Kết cấu phương thuốc theo y học cổ truyền
Xuyên bối tỳ bà cao gồm nhiều dược liệu được kết hợp theo bố cục Quân – Thần – Tá – Sứ, theo tác dụng chính yếu của các vị thuốc, tương tự thứ bậc của vua tôi quần thần trong triều đình. Quân là vị thuốc quyết định công năng chính của phương thuốc, tương tự như vua, đứng đầu triều đình, quyết định vận mạng của quốc gia, dân tộc.

 

Trong phương thuốc Xuyên bối tỳ bà cao, Xuyên bối mẫu là vị quân, có tác dụng nhuận phế, chỉ khái, hóa đàm, thanh phế, giải độc…Đã có những nghiên cứu dược lý về Xuyên bối mẫu, chứng minh vị thuốc này có tác dụng ức chế nhẹ trung tâm gây ho, an thần, qua đó làm giảm phản xạ ho. Đây là một dược liệu quý và khá đắt tiền. Chữ “Bối mẫu” xuất phát từ ý nghĩa quý như bảo bối của người mẹ, được sử dụng làm phương thuốc trừ ho cho các thai phụ và bà mẹ cho con bú. Ngoài ra, còn được xem là bảo bối trừ ho trong mỗi gia đình Trung Hoa thời xưa, gọi là “Cấp cứu phương”.

Phò tá cho Vua, có Thần, là cánh tay đắc lực giúp vua trong việc trị nước. Tương tự như vậy, vị Thần có vai trò hỗ trợ vị Quân trong trị bệnh. Vị thần trong phương thuốc Xuyên bối tỳ bà cao là Tỳ bà diệp, có tác dụng thanh phế, hòa vị, giáng khí, hóa đờm, được đông y sử dụng trong các trường hợp ho, viêm họng, viêm phế quản mạn tính…Tỳ bà diệp cũng được nghiên cứu về dược lý, cho thấy các tác dụng như giảm co thắt khí quản, long đờm, kháng khuẩn, chống viêm.

Giúp việc cho Thần lại có tướng tá ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo ý đó, phương thuốc cổ truyền cũng bao gồm nhiều vị tá, tạo ra tính phong phú về tác dụng cho phương thuốc, góp phần nâng cao hiệu quả trị bệnh chung. Các vị này gồm: Cát cánh, bán hạ có tác dụng làm loãng đờm, nhờ đó giúp đờm dễ được đẩy ra ngoài; Trần bì, gừng tươi, bạc hà chứa nhiều tinh dầu, có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm; Khổ hạnh nhân ức chế trung tâm gây ho, làm giảm phản xạ ho; Viễn chí có tác dụng an thần, giảm ho, làm loãng đờm, giảm đau, kháng khuẩn; Qua lâu nhân giúp giảm đau, long đờm, chống viêm; Một điểm khác biệt của phương pháp trị bệnh theo y học cổ truyền, đó là trong phương thuốc ngoài các vị thuốc có tác dụng trị chứng bệnh như giảm ho, long đờm, kháng khuẩn, chống viêm…, còn hết sức coi trọng các vị thuốc có tính bổ dưỡng. Qua đó, một mặt làm tăng cường sinh lực nói chung, vừa điều hòa chức năng tạng phủ, cải thiện phần gốc của bệnh, đem lại hiệu quả trị bệnh lâu dài. Trong phương thuốc này, có các vị như Sa sâm, phục linh, ngũ vị tử là vị thuốc bổ phế, tỳ, vị, phát huy công hiệu vừa tả, vừa bổ theo đông y.

Cam thảo là vị thuốc đóng vai trò làm Sứ có tác dụng dẫn thuốc, điều vị, giúp phương thuốc giảm được vị đắng và dễ uống. Đồng thời, nhờ cam thảo, các vị thuốc khác dễ được hấp thu, thể hiện đúng tính vị, quy kinh, tác dụng. Trong đông y, cam thảo cũng là vị thuốc giúp long đờm, giảm ho, chống viêm.

29 thg 8, 2013

Bài thuốc trị viêm gan B từ cây chó đẻ


Cây chó đẻ nhiều năm nay được chứng minh là một vị thuốc chữa được nhiều bệnh trong đó có viêm gan siêu vi B.
Cây chó đẻ còn có tên gọi khác là chó đẻ răng cưa, diệp hạ châu, diệp hạ châu đắngcó vị ngọt hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, thanh can, sáng mắt, làm se và hạ nhiệt. Người ta cũng đã nhận thấy tác dụng diệt khuẩn và diệt nấm rõ rệt của acid phenolic và flavonoid trong Chó đẻ răng cưa, Coderacin dùng chế thuốc nhỏ mắt và thuốc mỡ tra mắt, nó có khả năng diệt một số vi khuẩn, nấm và mốc, chủ yếu là các mầm gây bệnh đối với mắt.
Ở Trung Quốc, người ta dùng Chó để răng cưa để chữa: 1. Viêm thận phù thũng; 2. Viêm niệu đạo và sỏi niệu đạo, viêm ruột, lỵ, viêm kết mạc, viêm gan; 3. Trẻ em cam tích, suy dinh dưỡng.
bai-thuoc-tri-viem-gan-b-tu-cay-cho-de
Ở Ấn Độ người ta dùng toàn cây như là thuốc lợi tiểu trong bệnh phù; cũng dùng trị bệnh lậu và những rối loạn đường niệu sinh dục và làm thuốc duốc cá. Rễ cây dùng cho trẻ em mất ngủ. Ở Campuchia, người ta dùng cây sắc uống, dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trị các bệnh về gan, trị kiết lỵ, sốt rét. Ở Thái Lan, cây được dùng trị các bệnh đau dạ dày, bệnh hoa liễu, vàng da, trĩ và lỵ. Cây non được dùng làm thuốc ho cho trẻ em.
Trên tất cả, chó đẻ được coi là một vị thuốc trị viêm gan B rất tốt.
Cây chó đẻ có chứa nhiều chất thuộc nhóm hóa học khác nhau như flavonoit, alkaloid phyllanthin; các hợp chất hypophyllanthin, nirathin, phylteralin, tritequen, tamin, axit hữu cơ, phenol, lignam…
Về dược năng, thí nghiệm về hoạt tính bảo vệ gan của cây chó đẻ cho thấy có tác dụng bảo vệ gan. Các thí nghiệm với kháng nguyên HbsAg chứng tỏ cây chó đẻ có tác dụng kháng virus viêm gan B. Đông y cho rằng cây chó đẻ vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, tiêu độc, sát trùng, thông huyết, điều kinh, thanh can, lương huyết, hạ nhiệt…; thường được dùng làm thuốc chữa các bệnh đau gan rất hữu hiệu.
Tác dụng giải độc gan và chữa viêm gan siêu vi B chỉ mới được các nhà khoa học lưu ý từ những năm 1980 về sau. Nghiên cứu của các nhà khoa học Nhật Bản và Ấn Độ cho biết họ đã phân lập được những hợp chất trong cây diệp hạ châu có khả năng chữa bệnh viêm gan. Một báo cáo trên tạp chí Lancet vào năm 1988 cũng xác định tác dụng này. Theo đó, 2 nhà khoa học Blumberg và Thiogarajan đã điều trị 37 trường hợp viêm gan siêu vi B với kết quả 22 người âm tính sau 30 ngày dùng diệp hạ châu. Đối với viêm gan siêu vi, 50% yếu tố lây truyền của virus viêm gan B trong máu đã mất sau 30 ngày sử dụng loại cây này (với liều 900 mg/ngày).
bai-thuoc-tri-viem-gan-b-tu-cay-cho-de
Dưới đây là một số bài thuốc từ cây chó đẻ có tác dụng trị bệnh gan:
- Chữa viêm gan B: Chó đẻ 30 g, nhân trần 12 g, sài hồ 12 g, chi từ 8 g, hạ khô thảo 12 g, sắc (nấu) uống mỗi ngày 1 thang.
- Chữa viêm gan do virus: Diệp hạ châu đắng sao khô 20 g, sắc nước 3 lần. Trộn chung các nước sắc, thêm 50 g đường đun sôi cho tan, chia làm 4 lần uống trong ngày. Khi kết quả xét nghiệm HBsAg (-) thì ngừng thuốc.
- Chữa xơ gan cổ trướng thể năng: Diệp hạ châu đắng sao khô 100 g sắc nước 3 lần. Trộn chung nước sắc, thêm 150 g đường đun sôi cho tan, chia nhiều lần uống trong ngày (thuốc rất đắng), liệu trình 30 – 40 ngày. Khẩu phần hằng ngày phải hạn chế muối, tăng đạm (thịt, cá, trứng, đậu phụ).
- Chữa suy gan (do sốt rét,  sán lá, lỵ amib, ứ mật, nhiễm độc): Diệp hạ châu (ngọt hoặc đắng) sao khô 20 g, cam thảo đất sao khô 20 g, sắc nước uống hằng ngày.
Theo Kienthucgiadinh.com.vn

15 thg 8, 2013

Trinh nữ hoàng cung – Vị thuốc quý

Trinh nữ hoàng cung là vị thuốc được nhân dân ta thường dùng để điều trị một số bệnh của phụ nữ rất hiệu quả, trong đó có u xơ tử cung.

  
Trong Y học cổ truyền Việt Nam, từ lâu trinh nữ hoàng cung đã được coi là vị thuốc quý. Trước đây, trinh nữ hoàng cung chỉ được dành riêng cho hoàng tộc, vì thế nó thường được gọi với các tên như "cây thuốc của hoàng cung" hay "cây thuốc dành cho nữ giới trong hoàng cung".

Nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã chứng minh trinh nữ hoàng cung có chứa 32 loại alkaloids, trong đó một số alkaloids có tác dụng chống sự phát triển của tế bào khối u, kháng khuẩn,… từ đó giúp phòng ngừa và điều trị các bệnh như u nang buồng trứng, u xơ tử cung, tăng cường sức khỏe, miễn dịch, đẩy lùi những rối loạn ở nữ giới.

Sau đây là một số bài thuốc đơn giản, hiệu quả từ cây trinh nữ hoàng cung:

Bài thuốc dùng trong hỗ trợ điều trị các bệnh ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt: Lá trinh nữ hoàng cung thái nhỏ, sao vàng sắc uống: mỗi ngày dùng 3-5 lá.

Bài thuốc chữa u nang buồng trứng, u xơ tử cung và u tuyến tiền liệt:Ba lá trinh nữ hoàng cung tươi, thái ngắn từ 1 đến 2 cm, sao khô đến khi có màu hơi vàng, đem sắc với nước, uống thành 3 đợt, mỗi đợt 7 ngày, thời gian nghỉ giữa hai đợt là 7 ngày.

Cây trinh nữ hoàng cungCây trinh nữ hoàng cung

Tác dụng chữa bệnh u xơ tử cung, u nang buồng trứng, phì đại tuyến tiền liệt càng được tăng cường khi trinh nữ hoàng cung được sử dụng làm thành phần chính phối hợp với các dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, hoàng cầm, khương hoàng để bào chế ra viên nang thực phẩm chức năng Nga Phụ Khang. Sản phẩm này có tác dụng ức chế phát triển của tế bào khối u, thu nhỏ kích thước khối u; giúp tăng cường hệ miễn dịch, phòng ngừa và hỗ trợ điều trị u xơ tử cung, u nang buồng trứng hiệu quả mà bệnh nhân không cần phải đun sắc cầu kỳ.

Bên cạnh duy trì sử dụng các bài thuốc từ cây trinh nữ hoàng cung, bệnh nhân u xơ tử cung cần giữ tâm lý thoải mái, lạc quan, thực hiện khám sức khỏe định kỳ để được bác sĩ theo dõi và có hướng điều trị thích hợp.


Thanh Hoa

3 thg 8, 2013

BÀI THUỐC KẾT HỢP TỪ GỪNG VÀ TỎI



Gừng (Zingiber officinale Roscoe) là gia vị dùng phổ biến trong các bữa ăn. Trong y học cổ truyền, toàn bộ củ gừng đều là vị thuốc: Sinh khương (gừng tươi), can khương (gừng khô), bào khương (vỏ củ gừng), thán khương (gừng sao cháy đen).
Gừng có vị cay ,tính ấm vào 3 kinh Phế ,Tỳ ,Vị .Có tác dụng ôn trung tán hàn, phát hãn ,giải biểu,giải độc,tiêu đàm.hành thủy
Dùng ngoài để xoa bóp và đánh gió

 Tỏi có tên khoa học là Allium Sativum là cây thuộc họ Liliaceace  bao gồm hành lá, hành củ và tỏi tây.
Theo Đông y tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn; chữa khí hư, tiểu tiện khó, bụng trướng đầy, tiêu nhọt, đờm và hạch ở phổi, tẩy uế.








                                                              BÀI THUỐC KẾT HỢP
1. Tỏi với gừng chữa bệnh chân dương kém (suy yếu tình dục nam). Dùng 2 củ tỏi và 30g gừng rang lẫn cùng nhau. Sau đó ăn riêng hoặc ăn cùng (bí quyết là rang cùng). Sau khi ăn liên tục 1 tuần thì sẽ thấy hiệu quả, đặc biệt với người trẻ và suy giảm nhất thời.

2. Cảm cúm lây nhiễm, đầu đau phát sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, hôi buồn nôn: gừng tươi 15g, tỏi 6 nhánh, đường một ít. Cho cả 3 thứ này vào sắc nước uống, tranh thủ uống lúc nóng, uống xong, lên gường nằm đắp chăn kín. Mỗi ngày uống 1 thang như trên. Tác dụng giải cảm.

3. Chữa cảm nắng, hôn mê: gừng tươi, tỏi, rau hẹ mỗi thứ một lượng vừa phải. Rửa sạch 3 thứ trên, gừng tỏi bỏ vỏ, cùng giã nát lấy nước chắt ra uống.

4. Bệnh cảm do gió lạnh: gừng 100g, tỏi 400g, mật ong 10ml, chanh 3 – 4 quả, rượu 800ml. Tỏi bóc vỏ đập dập, chanh và gừng bỏ vỏ xắt miếng cùng đun trong 5ml mật ong. Sau đó đổ rượu vào dung dịch trên ngâm trong vò. Ba tháng sau, lọc lấy nước để uống.

Mỗi lần uống 3 – 5cc pha với nước lọc nguội. Không uống quá nhiều.

5. Nôn mửa do bị cảm lạnh nôn ra nước hoặc một lượng thức ăn nhỏ, sắc mặt tái nhợt, mệt mỏi rã rời, rêu lưỡi trắng, mạch đập yếu: gừng 1 củ, tỏi 1 củ; gừng trộn tỏi giã nát thành bánh, đắp băng ở huyệt Đan điền (dưới rốn) và huyệt nội quan (ở cổ tay).

6. Thông kinh hoạt huyết, khử phong tán hàn, trừ tê thấp. Nước gừng tươi, nước hành, nước tỏi, nước lá hẹ, dầu vừng, mỗi thứ 120g, nước lá ngải cứu 30g, rượu trắng 600g. Trước tiên cho nước gừng, hành, tỏi, hẹ, lá ngải vào ấm, trộn đều, rồi cho rượu trắng vào đun to lửa cho sôi. Sau đó rót dầu vừng vào, khuấy đều, rồi đun nhỏ lửa, cho đến khi thật sánh, cho thêm ít tùng hương, hồng đơn vào khuấy đều thành cao, cho vào lọ dùng dần. Khi dùng phải hâm nóng, bôi vào khăn đắp vào chỗ tê, đau. Cứ 1 – 2 ngày thay 1 lần.

7. Tác dụng thông kinh lạc, giảm tê, giảm đau. Đau ngực, phần lớn nguyên nhân là do hàn ngưng tâm mạch, khí đọng trong lồng ngực. Triệu chứng thường thấy, ngực đầy tức, thỉnh thoảng thấy đau, cũng có khi đau dữ dội… Tỏi 2 củ, gừng tươi 8g, khoai môn 60g, sơn dược 60g. Tất cả các thứ trên đem giã nát, đắp vào chỗ đau, lấy gạc đặt lên, dùng băng dính cố định lại.

8. Tuyên lợi, phế khí, khai âm, mất tiếng, phần lớn do nhiệt, phong hàn xâm nhập cổ họng dẫn đến: tỏi 6g, gừng tươi 3g, lá ngải 20g, lòng trắng trứng gà 1 quả. Cả 3 vị thuốc, đem giã nát nhuyễn, cho lòng trắng trứng gà vào trộn đều, đắp vào huyệt đại trùy (nằm chỗ lõm vào đốt sống thứ 7, khi ngồi cúi xuống), và huyệt dũng tuyền ở lòng bàn chân. Sau đó dùng băng băng chặt lại.

9. Giáng hỏa, giảm đau, đau răng: gừng tươi 6g, tỏi 6g, lá chè 12g, uy linh tiên 12g. Tất cả đem giã nát nhuyễn, cho một ít dầu vừng lòng trắng trứng vào, trộn đều đem đắp vào huyệt hợp cốc (chỗ lõm giữa ngón cái và ngón trỏ) và đắp vào huyệt dũng tuyền (chỗ lõm dưới gan bàn chân, nằm ở điểm 1/3 từ đầu ngón cái đến gót chân). Sau đó dùng băng dính cố định lại.

10. Kiện tỳ, lợi tiểu, chủ trị viêm thận mãn: gừng tươi 3 lát, hành hoa 1 cây, tỏi 3 nhánh. Đem ba vị trên giã nát, nặn thành bánh dán quanh rốn. Mỗi ngày thay băng 3 lần.

30 thg 4, 2012


Y học cổ truyền Bài thuốc cho người huyết áp cao Để điều trị cao huyết áp, y học hiện đại căn cứ vào nguyên nhân và cơ địa của người bệnh mà có các phương cách chữa trị thích hợp. Bên cạnh đó cũng có những bài thuốc cổ truyền dễ áp dụng. Theo y học cổ truyền, bệnh cao huyết áp thuộc chứng “huyễn vựng”, hoặc “can dương vượng”. Nguyên nhân có thể là do tình chí căng thẳng lâu ngày khiến can khí nội uất, hóa hỏa làm hao tổn can âm, can dương nhiễu loạn, bốc hỏa. Can và thận có quan hệ mật thiết với nhau, hỏa nung đốt phần âm của can thận, dẫn tới can thận âm hư, can dương vượng. Hoặc do ăn uống quá nhiều chất béo, chất ngọt làm tổn thương tỳ vị, dẫn đến chức năng vận hóa của tỳ suy giảm rồi dẫn tới đàm thấp nội sinh, và đưa đến thanh dương bất thăng, trọc âm bất giáng mà gây nên bệnh huyết áp cao. Tùy theo thể bệnh (can hỏa thịnh, can thận âm hư, âm dương đều hư...) mà y học cổ truyền có những bài thuốc điều trị hiệu quả. Điều đặc biệt là có một số vị thuốc chỉ dùng độc vị (một vị), hoặc kết hợp vài ba vị để điều trị cao huyết áp ở thể nhẹ, hoặc ở giai đoạn đầu rất tốt như: cúc hoa, đỗ trọng, câu đằng, phòng kỹ, hòe hoa, mướp đắng, rau má, cải xoong, cam thảo đất, hạ khô thảo, lá liễu... Dưới đây là một số cách ứng dụng đơn giản chữa cao huyết áp bằng cây cỏ mà người dân ở quê cũng có thể áp dụng. - Rau cần nửa kg, rửa sạch, xay (hoặc giã nhuyễn) để vắt lấy nước uống. - Lạc nhân (hạt đậu phộng) 200 gr, để cả vỏ lụa đem ngâm vào nửa lít giấm ăn, mỗi tối trước khi đi ngủ nhai 10 hạt và nuốt. - Lá liễu tươi 250 gr, cho vào cùng 1 lít nước, rồi sắc (nấu) kỹ, uống trong ngày. - Hoa cúc, hòe hoa, hoa đề thái (mỗi loại 10 gr) cho vào nửa lít nước, sắc uống trong ngày. - Hạ khô thảo 15 gr, long đởm thảo 6 gr, ích mẫu 30 gr, bạch thược 12 gr, cam thảo 6 gr. Tất cả cho vào nồi cùng 3 chén nước (750 ml) sắc uống trong ngày. - Sinh địa 15 gr, sơn thù 10 gr, trạch tả 10 gr, quế chi 10 gr, ngưu tất 10 gr cho vào cùng 3 chén nước, sắc uống trong ngày. Lưu ý, cần tham khảo ý kiến nhà chuyên môn và cần theo dõi huyết áp, nếu thấy bất thường phải đi khám, kiểm tra sớm.
Thứ ba, 14/02/2012, 10:13(GMT+7) Cần tây chữa cao huyết áp Cần tây có công dụng dưỡng huyết mạnh, lợi tỳ, ích khí, thanh nhiệt hạ hỏa, lợi đại tiểu tiện, tiểu đường, giảm ho... Đông y gọi cần tây là cần làm thuốc, dương khổ cần, vị ngọt đắng the mát có công dụng dưỡng huyết mạnh, lợi tỳ, ích khí, thanh nhiệt hạ hỏa, lợi đại tiểu tiện, tiểu đường, giảm ho... Từ lâu, người Hy Lạp dùng cần tây chữa lợi tiểu, người Ai Cập dùng để chữa tim... Đặc biệt người ta thường dùng cần tây để "lọc máu" có mỡ máu cao, giảm béo và chữa cam huyết áp... Chữa huyết áp cao: Rau cần tây cả cây 50 - 60g, sắc lấy nước uống hằng ngày (chia 3 lần) uống đến khi thấy huyết áp ổn định thì thôi. Hoặc rau cần tây 100g, cải 50g, gừng 5g, hành 10g, nước canh gà 300g, nấu chín, ăn nóng. Mỡ trong máu cao, huyết áp cao: Cần tây 500g, táo đen bỏ hạt 250g. Nấu chín, uống nước, ăn cái. Bổ can thận, hạ huyết áp: Rau cần tây 200g, táo bỏ hột 10g, đỗ trọng (bột) 15g, gừng 5g, hành 10g, muối 5g, dầu vừa đủ dùng. Nồi nóng, đổ dầu phi thơm gia vị. Đổ 600ml nước đun sôi rồi bỏ cần, táo, đỗ trọng, gia vị, đun nhỏ lửa thêm 20 - 30 phút là ăn được. Hoặc rau cần tây 200g, mộc nhĩ 30g, đỗ trọng bột 10g, tỏi 15g, gừng 5g, gia vị dầu vừa đủ. Các vị cho vào xào, bỏ cần tây sau cùng xào ăn tái. Theo Lương y Nguyễn Văn
  • PHONG TÊ THẤP 
Phong tê thấp là bệnh thường gặp ở độ tuổi trung niên và cao tuổi. Bệnh thường phát triển dai dẳng, triệu chứng không biểu hiện rầm rộ, chỉ thoáng qua và lặp đi lặp lại. Đau nhức tê buồn xuất hiện từng đợt phụ thuộc vào thời tiết và khí hậu đặc biệt mùa đông xuân hoặc những khi sức khỏe bị trục trặc suy giảm, lao động và sinh hoạt không điều độ, ăn uống thiếu thốn, nơi ở ẩm thấp, âm u kéo dài.
Trên lâm sàng phong tê thấp cũng thể hiện nhiều thể loại khác nhau. Hay gặp nhất là phong thấp, hàn thấp, tê thấp. Các loại khác ít gặp. Tùy thể loại mà Đông y có các bài thuốc điều trị cụ thể xin được trình bày từng thể bệnh. Bạn đọc có thể tham khảo và áp dụng khi cần, bởi nó có hiệu quả trên lĩnh vực này, người bệnh rất dễ tìm kiếm và sử dụng.

Thể phong thấp

Triệu chứng: Các khớp và thân thể đau nhức, đau thường chạy từ khớp này sang khớp kia, các khớp khó cử động, cơ thể phát sốt, toàn thân mệt mỏi, thích nằm, mạch phù.
Bài 1: Rễ xấu hổ 16g, thiên niên kiện 10g, vòi voi 16g, huyết đằng 16g, thổ linh 20g, độc hoạt 16g, nam tục đoạn 16g, ngũ gia bì 12g. Sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Hy thiêm 16g, cỏ xước 16g, rễ bưởi bung, kinh giới 16g, phòng phong 12g, thương nhĩ 16g, tang ký sinh 16g, thiên niên kiện 10g. Sắc uống ngày một thang.

Thể hàn thấp

Triệu chứng: Đau ở một khớp hoặc nhiều khớp, đau cố định, không chạy như phong thấp. Càng lạnh càng đau. Đau nhiều về đêm. Các khớp khó co duỗi. Chân tay lạnh, da lạnh, rêu lưỡi trắng, mạch khẩn, đại tiện thường lỏng.
Bài 1: Thương nhĩ tử (sao) 16g, thiên niên kiện 10g, rễ cỏ xước 16g, rễ cà gai leo 16g, rễ tất bát 12g, nam tục đoạn 16g, ngải diệp (sao) 16g, quế chi 10g, trần bì 10g, thổ phục linh 20g. Sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Nam tục đoạn 16g, kinh giới 16g, kê huyết đằng 16g, độc hoạt 12g, cỏ xước 16g, thủ ô chế 16g, bưởi bung 16g, ngũ gia bì 16g, quế 10g, thiên niên kiện 10g, xuyên khung 12g, chích thảo 10g. Sắc uống ngày một thang (uống khi nước thuốc còn nóng).

Thể tê thấp

Triệu chứng: Đau nhức nặng nề, da thịt tê bì, đi lại chậm chạp khó khăn, đau dai dẳng, nhận biết cảm giác bị giảm. Nếu bệnh nặng có thể bị tê liệt một bên cơ thể. Trường hợp này mạch nhu hoãn.
Cách chữa: Khu phong tán hàn, trừ thấp.
Bài 1: Tang ký sinh 16g, phòng phong 12g, kinh giới 16g, tất bát 12g, huyết đằng 16g, tế tân 6g, thiên niên kiện 10g, ngũ gia bì 16g, xuyên khung 12g, độc hoạt 12g, hà thủ ô (chế) 16g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Bài thuốc chườm: Ngải diệp và lá cúc tần, mỗi thứ một nắm sao rượu, khi còn đang nóng chườm vào nơi đau. Công dụng: giảm đau, chống viêm, thông kinh hoạt lạc, phục hồi chức năng sinh lý cho xương khớp.
Chú ý: Bệnh nhân cần nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý; chống lạnh, tránh nơi ẩm thấp, luôn luyện tập và kết hợp xoa bóp để chống xơ cứng.