HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN

HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN

20 thg 4, 2023

ĐẠI HỘI ĐÔNG Y THÀNH PHỐ HỘI AN

 Ngày 18/4 năm 2023 vừa qua hội đông y tp Hội an 

Căn cứ vào điều lệ Hội Đông y Việt Nam

Căn cứ vào Kế hoạch Đại hội của hội Đông y TP Hội an 

Hội Đông Y TP Hội An long trọng tổ chức Đại hội lần thứ VIII nhiệm kỳ (2023-2028) tại TTVH Hội An 

Về tham dự Đại hội có Đại biểu : Dược sĩ Nguyễn Như Chính Chủ tịch hội Đông y Tỉnh Quảng Nam

- Đại biểu Nguyễn Văn Lanh PCT Thành Phố Hội An

Đại biểu các Phòng Ban ngành chỉ đạo Đại hội & Toàn thể Đồng nghiệp ,Hội viên Hội Đông Y Tp 




Thông qua chương trình ĐH và Báo cáo Tổng kết công tác hoạt đông nhiệm kỳ VII ,đồng thời báo cáo kiểm điểm và đề ra Phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ VIII .

   -Đại hội cũng đã thông qua đề án Nhân sự bầu 15 thành viên vào BCH mới. Lương Y Nguyễn Văn Minh nhận nhiệm vụ chủ tịch Hội Đông y Thành Phố trong nhiệm kỳ 2023-2028. 

Thông qua Nghị Quyết và Đại hội kết thúc thành công tốt đẹp !

Một số hình ảnh trong ngày




















































10 thg 4, 2023

Hải Thượng Lãn Ông tên húy là Lê Hữu Trác tên thường là Lê Hữu Chẩn, là một đại y tôn của nước ta. Sinh ngày 12/11/1724 năm Giáp Thìn về cuối đời Hậu Lê, ở thôn Văn Xá, làng Lưu sXá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương, (nay là thôn Thanh Xá, xã Hoàng Hữu Nam, huyện Yên Mỹ, Hải Hưng). Mất ngày rằm tháng Giêng năm Tân Hợi, niên hiệu Quang Trung thứ 4 (1791) tại xã Tình Diễm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Lê Hữu Mưu đỗ tiến sĩ, làm Thượng Thư đời Lê Dụ Tôn, mẹ quê ở Bàu Thượng, làng Tình Diễm, Hương Sơn, Hà Tĩnh. Hồi nhỏ theo cha đi học ở Thăng Long, năm 1739 cha mất, lớn lên gặp thời loạn, vua Lê hư vị, Chúa Trịnh lộng quyền, các nơi đều nổi dậy chống đối, có phen Lãn ông cũng ra cầm quân dẹp loạn, nhưng vì chán ghét cuộc chém giết tương tàn ấy, nên nhân có tin người anh ở Hương Sơn mất, ông bèn viện cớ về quê nuôi mẹ. Nhân bị đau ốm, Lãn ông mới tìm đến vị Lương y Trần Độc ở núi Thành, xã Hương Cần, huyện Thanh Chương, Nghệ An để chữa bệnh. Trong thời gian ở đó hơn 2 năm, Lãn ông đã nghiên cứu các sách y học kinh điển nhất là bộ Phùng Thị Cẩm Nang và cùng họ Trần bàn luận về y học. Bấy giờ có Hải Quận Công biết Lãn Ông văn võ kim toàn muốn mời ra cầm quân lần nữa, nhưng vì chán ghét chiến tranh, không ham danh lợi Lãn Ông đã cương quyết chối từ, trở về Hương Sơn nghiên cứu y học và chữa bệnh. Năm 1760, mẹ mất, lúc đó tuy mới 35 tuổi đã nổi tiếng là danh y, ngoài việc chữa bệnh, Hải Thượng Lãn Ông đã mở lớp dạy cho đồ đệ. Suốt hai mươi mấy năm lưu tâm nghiên cứu, đem hết tài năng và tinh thần tận tụy chữa bệnh và giảng dạy. Hải Thượng đã lĩnh hội được nguyên lý uyên thâm của Đông y, thu lượm bao kinh nghiệm phong phú về chẩn trị, đúc kết lại thành một hệ thống kết hợp chặt chẽ lý luận với thực tiễn lâm sàng trong một tác phẩm rất lớn và rất có giá trị là bộ Y Tông Tâm Lĩnh. Ngoài ra lại còn viết tập”Vệ Sinh Yếu Quyết” và một bản gọi “Nữ Công Thắng Lãm”. Năm 1782, đời Lê Hiến Tông, Niên hiệu Cảnh Hưng thứ 43, bấy giờ đã ngoài 60 tuổi Hải Thượng bị triệu về Kinh để chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán con Chúa Trịnh Sâm. Ở triều đình, bị các ngự y ganh tị gièm pha, mãi sau Hải Thượng mới được phép chữa nên không có kết quả. Nhân ở kinh đô một năm ông tìm mọi cách để in bộ sách của mình nhưng không thành công, lại có ý tìm lại các vị danh y tại đó để trao đổi học thuật nhưng chỉ thu lượm được một số bài thuốc kinh nghiệm hoặc gia truyền. Hải Thượng đã kể lại cuộc hành trình này ở tập Thượng Kinh Ký Sự, một tài liệu văn học có giá trị phản ánh đời sống của xã hội Việt Nam hồi đó. Lãn Ông trở về Hương Sơn tiếp tục nghiên cứu, chữa bệnh, giảng dạy và hoàn thành bộ Y Tông Tâm Lĩnh, bộ sách Đông y lớn nhất và quí nhất ở nước ta: gồm 63 cuốn (nay chỉ còn 55 cuốn) do Vũ Xuân Hiên thu thập lại và đem in năm 1866. Nội dung bao gồm y lí, chẩn trị, phương dược, trình bày có hệ thống, kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích chứng minh rõ ràng, như bàn về Thủy Hỏa thì có cuốn Huyền Tẩn Phát Vi, bàn về khí huyết có cuốn Khôn Hóa Thái Chân, trị các bệnh ngoại cảm thì có Ngoại Cảm Thông Trị, biện biệt tạp chứng thì có Bách Bệnh Cơ Yếu, chẩn đoán thì có Y Gia Quan Miện, biện luận thì có Đạo Lưu Dư Vận, vận khí có Vận Khí Bí Điển ... cho đến các loại phụ khoa (Phụ Đạo Xán Nhiên), nhi khoa (Ấu Ấu Tu Tri) đều viết một cách tinh thông, giầu kinh nghiệm. Tuy chịu ảnh hưởng của y học Trung Hoa nhất là Phùng Thị nhưng Lãn Ông đã có óc sáng tạo vận dụng y lí hợp với hoàn cảnh khí hậu và thể chất của người Việt Nam và đã sử dụng thuốc Nam để chữa bệnh, như ở các cuốn Lĩnh Nam Bản Thảo, Bách Gia Trân Tàng và Hành Giản Trân Nhu. Nhận định về Lĩnh Nam không có thương hàn, Lãn Ông đã lập ra nhiều phương thang mới ghi ở cuốn Ngoại Cảm Thông Trị. Đặc biệt trong 2 cuốn Dương Án và Âm Án, ghi lại những y án và phân tích về những bệnh đã chữa khỏi hoặc không chữa được. Cuốn Châu Ngọc Cách Ngôn để lại cho chúng ta những điều căn dặn rất bổ ích về chẩn đoán trị liệu và những sai lầm tai hại cần tránh. Ông tự đặt ra cho người thầy thuốc chân chính tám chữ “Nhân - Minh - Đức - Trí - Lượng - Thành - Khiêm - Cần (tức là nhân ái, sáng suốt, đức độ, hiểu biết, rộng lượng, thành thực, khiêm tốn, cần cù), đồng thời tránh 8 tội: lười biếng, keo kiệt, tham lam, dối trá, dốt nát, bất nhân, hẹp hòi, thất đức. Ông kịch liệt phê phán những người lợi dụng ngành y để mưu lợi: “hoặc bắt bí người ta trong đêm mưa gió khó khăn... bệnh dễ thì trộ là bệnh khó, bệnh khó thì dọa là bệnh chết, dối mình để mưu cầu cho mình... Đối với kẻ giàu sang thì sốt sắng để mong được lợi; đối với người nghèo khó thì lạnh nhạt, thờ ơ...”. Thân thế và sự nghiệp của Lãn Ông đã có một ảnh hưởng rất lớn đối với giới Đông y Việt Nam cả về mặt đạo đức và chuyên môn. Nhân gần đây có nhiều vấn đề về đạo đức của người làm nghề y được công luận bàn nhiều, đọc lại 12 điều y đức thấy nó chẳng giống nước ngoài mà nó cũng chẳng giống truyền thống của ta, để các bạn có cái nhìn toàn diện về vấn đề này, Sau đây tôi xin trích 8 tội cần tránh của người thầy thuốc (trích trong Hải Thượng y tông tâm lĩnh, 6 tập. Hội y học Dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh tái bản, 1986). 1. Có bệnh nên xem xét đã rồi mới bốc thuốc mà vì ngại đêm mưa vất vả, không chịu đến thăm mà đã cho thuốc, đó là tội LƯỜI. 2. Có bệnh nên uống thứ thuốc nào đó mới cứu được nhưng sợ người bệnh nghèo túng, không trả được vốn, nên chỉ cho loại thuốc rẻ tiền, đó là tội BỦN XỈN. 3. Khi thấy bệnh chết đã rõ, không nói thật mà lại nói lơ mơ để làm tiền, đó là tội THAM. 4. Thấy bệnh dễ chữa, nói dối là khó, le lưỡi, chau mày, dọa cho người ta sợ để lấy nhiều tiền, đó là tội LỪA DỐI. 5. Thấy bệnh khó, đáng lý phải nói thật rồi hết sức cứu chữa nhưng lại sợ mang tiếng là không biết thuốc, vả lại, chưa chắc đã thành công, mà đã như vậy thì không được hậu lợi, nên kiên quyết không chịu chữa đến nỗi người ta bó tay chịu chết, đó là tội BẤT NHÂN. 6. Có trường hợp người bệnh ngày thường có bất bình với mình, khi họ mắc bệnh phải nhờ đến mình, liền nẩy ra ý nghĩ oán thù, không chịu chữa hết lòng, đó là tội HẸP HÒI. 7. Lại như thấy người mồ côi, góa bụa, người hiền, con hiếm, mà nghèo đói ốm đau thì cho là chữa mất công vô ích, không chịu hết lòng, đó là tội THẤT ĐỨC. 8. Lại như xét bệnh còn lờ mờ, sức học còn non đã cho thuốc chữa bệnh, đó là tội DỐT NÁT. Hải Thượng Lãn ông đã đề ra 9 điều dạy trong "Y huấn cách ngôn" để rănn dạy người thây thuốc mà hiện nay vẫn còn nguyên giá trị, thí dụ: - Phàm người mời đi thăm bệnh, nên tùy bệnh kíp hay không mà sắp đặt thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hay nghèo hèn mà nơi đến trước, chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt nơi hơn kém. - Khi đến xem bệnh ở nhà nghèo túng, hay những người mồ côi, goá bụa hiếm hoi, càng nên chǎm sóc đặc biệt; vì những người giàu sang không lo không có người chữa; còn người nghèo hèn, thì không đủ sức đón được thày giỏi, vậy ta để tâm một chút, họ sẽ được sống một đời, còn những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc mà không có ăn, thì vẫn đi đến chỗ chết. - Khi chữa bệnh cho ai khỏi rồi, chớ có mưu cầu quà cáp, vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí thất thường mà mình cầu cạnh thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là nghề thanh cao, ta càng phải giữ khí tiết cho trong sạch Bộ sách Hải Thượng Y Tông Tâm Lĩnh gồm 28 tập, 66 quyển, nội dung gồm: 1. Tập đầu: Có bài tựa, Phàm lệ mục lục và Y nghiệp phần chương nói về nghề y, thái độ tư cách, khái quát bộ sách và tập thơ Y Lí Thâu Nhàn. 2- Tập Nội Kinh Yếu Chỉ: nêu khái yếu về cuốn kinh điển Nội kinh. 3. Tập Y Gia Quan Miện: Khái niệm về Âm dương, Ngũ hành, quẻ số, can chi, mạch yếu. 4. Tập Y Hải Cầu Nguyên: Soạn những lời thiết yếu của các tiên hiền, chú giải kỹ để làm rõ những điều huyền bí. 5. Tập Huyền Tẫn Phát Vi: Nói rõ công dụng mở đầu của ‘Tiên thiên’, máy Âm dương, khiếu Thủy Hỏa và cách phân biệt chứng trạng, dùng thuốc. 6- Tập Khôn Hóa Thái Chân: gồm có công dụng nuôi sống của ‘Hậu thiên’ nguồn gốc của khí huyết, cách luận bệnh xử phương. 7- Tập Đạo Lưu Dự Vận: đem các ý nghĩ còn nghi hoặc, chưa rõ nghĩa trong các sách, cùng với những chỗ người xưa chưa nói đến để biện luận rõ ràng mà bổ sung vào những chỗ còn thiếu sót. 8. Tập Vận Khí Bí Điển: chọn lấy bài phú Chiêm Vận, phong giác của họ Vương và thiên Ngọc Lịch, ngũ hành, chia ra cách xem mây, xem gió, chủ vận, khách vận, chủ khí, khách khí, lập thành từng cách nghiệm đoán. 9. Tập Dược Phẩm Vậng Yếu: chọn lấy 150 vị thuốc thường dùng trong Bản thảo, chia làm 5 bộ để tiện tra khảo. 10- Tập Lĩnh Nam Bản Thảo: soạn các vị thuốc cây cỏ ở Lĩnh Nam (bao gồm Việt Nam và miền Nam Trung quốc), chia thành môn loại, chú thích tính chất, cách chữa, cách thu hái... 11- Tập Ngoại Cảm Thông Trị bàn về nước Nam ta không có bệnh thương hàn, mắc bệnh ngoại tà, đều là bệnh cảm mạo, tác giả không theo hình chứng lục kinh của Thương hàn luận nhưng Lãn Ông đã sáng chế ra 3 phương giải Biểu, 6 phương hòa Lý để chữa tất cả các bệnh ngoại cảm. 12- Tập Bách Bệnh Cơ Yếu: chọn lấy các bệnh, môn trong sách kinh điển, xét nguyên nhân, cơ chế bệnh, phân biệt chứng trạng hư thực, tiên lượng cách chữa, xử phương, dụng dược. 13. Tập Y Trung Quan Miện: soạn những điều hay mà tác giả đã lĩnh hội được ý nghĩa sâu sắc, những điểm cốt yếu. 14. Tập Phụ Đạo Xán Nhiên" chọn lọc trong các sách Phụ khoa những vấn đề về kinh nguyệt, đới hạ, thai, sản... lấy những điểm thiết thực cốt yếu, bỏ chỗ rườm rà… đồng thời bổ sung thêm những ý kiến của tác giả. 15. Tập "Tọa Thảo Lương Mô", tác giả thấy trong nhiều sách trước đó về Sản khoa viết rườm rà, được điều nọ, mất điều kia nên ông soạn, sắp xếp lại, bổ sung hoàn chỉnh hơn. 16. Tập Ấu Ấu Tu Tri: tác giả thấy trong nhiều sách Nhi khoa trước đó viết rời rạc, không thống nhất nên tác giả đã soạn lại, xét nguyên nhân cơ chế bệnh sinh, phân biệt chứng trạng cách chữa, xử phương làm chỗ cốt yếu và thêm phần tâm đắc. 17. Tập Mộng Trung Giác Đậu: trình bày đầy đủ các kiến thức về bệnh Đậu... và bổ sung thêm kinh nghiệm đặc sắc phong phú. 18. Tập Ma Chẩn Chuẩn Thằng: soạn các phương pháp và kinh nghiệm tâm đắc trong điều trị bệnh sởi. 19. Tập Tâm Đắc Thần Phương: trong khi lâm lâm sàng, tác giả đã hết sức suy nghĩ chọn ra nhiều phương thuốc thần diệu trong Phùng Thị Cẩm Nang. 20. Tập "Hiệu Phỏng Tân Phương: trong khi lâm sàng tác giả đã hết sức suy nghĩ lập ra nhiều phương thuốc đáp ứng với tình thế khó khăn. 21. Tập Bách Gia Trân Tàng: tiếp thu bí phương của ông ngoại truyền lại cùng thu thập các phương thuốc quý, chữa được nhiều trường hợp khó. 22. Tập Hành Giản Trân Nhu: chọn lấy các bài thuốc có những vị thuốc Nam, thuốc Bắc thông thường, dễ kiếm, tiện dùng. 23. Tập Y Phương Hải Hội: tập hợp soạn các thang tễ, hoàn tễ trong các sách, rườm rà thì giảm đi, thiếu thì bổ sung thêm. 24. Tập Y Án, Dương Án: Tập hợp tâm đắc suy nghĩ về những trường hợp nguy nan mà chữa thành công. 25. Tập Y Án, Âm Án: tập hợp những bệnh án bệnh nặng, khó, tình thế tuyệt vọng dù cố hết sức mà không kết quả để rút kinh nghiệm. 26. Tập Truyền Tâm Bí Chỉ hoặc còn gọi là Châu Ngọc Cách Ngôn, biện luận rõ ràng đầy đủ những nghĩa lý sâu xa trong sách, những chỗ tinh hoa của y thuật. 27. Tập Vĩ. (cuối) là cuốn Thượng Kinh Ký Sự, thuật lại cuộc lên kinh thành chữa bệnh cho Chúa Trịnh. Chỉ với giá trị sử học, văn học của cuốn ký sự này đã làm cho sự nghiệp văn hóa của Hải Thượng Lãn ông nổi danh không kém gì sự nghiệp y học của tác giả. Về sau đă thu thập được nốt 2 cuốn là Nữ Công Thắng Lãm và Vệ Sinh Yếu Quyết. 28. Tập của Pho Sách Bách Khoa Thư về Đông y "Lãn ông tâm lĩnh" là 28 viên ngọc quý, 28 vị sao (nhị thập bát tú) của bầu trời Y học phương Đông. TỔNG HỢP
geanchor="1" style="clear: left; float: left; margin-bottom: 1em; margin-right: 1em;">

CHUẨN BỊ CHO ĐẠI HỘI LẦN THỨ VIII








 


 

14 thg 8, 2016

http://baoquangnam.vn/xa-hoi/y-te/201608/ky-niem-70-nam-thanh-lap-hoi-dong-y-viet-nam-2281946-2282016-y-hoc-cua-su-trai-nghiem-693800/index.htm

25 thg 2, 2016

Làm Thầy

Làm Thầy

Phan Xuân Trung.
Thầy thuốc

Thầy thuốc là tên gọi chung của những người có khả năng chữa bệnh cho người khác.

Thuở còn bé thơ, khi tôi sốt, phát ban, mẹ tôi thường luộc trứng gà, lăn trên lưng của tôi. Khi tôi đau bụng, mẹ tôi xức dầu vào rún tôi. Khi tôi nhức đầu, mẹ tôi thường giựt gió. Tôi ớn lạnh, mẹ tôi cạo gió, nấu cháo gừng, ủ ấm, nấu nước nóng tắm cho tôi. Mẹ tôi đã làm thay cho một bác sĩ chuyên khoa nhi để chữa bệnh cho tôi.

Mẹ tôi kể người đỡ đẻ sinh ra tôi là bà Bảy Mụ. Bà được gọi tên như vậy là vì bà chuyện môn đi đỡ đẻ cho người ta. Ở quê, những người làm công việc này gọi là bà mụ vườn.

Mẹ tôi ốm yếu, thường hay bệnh. Cái thuở sau giải phóng, ai cũng nghèo, thuốc men không có. Người giúp được cho mẹ tôi là bà Lan giác hơi. Rõ ràng là chỉ khi mẹ tôi bệnh thật thì các vết giác hơi trở nên bầm tím, còn không bệnh thì có giác mấy cũng không đổi màu. Sau khi giác hơi, mẹ tôi nấu nồi lá xông, đổ thêm chút dầu gió, trùm mền vào xông hơi. Một hồi sau thì tỉnh táo hẳn.

Ở Sài gòn, gần nhà tôi có Thầy Năm Chích chuyên môn chữa bệnh. Thầy Năm Chích là y tá quân đội hồi trước. Ông không phải bác sĩ nhưng chích rất hay, chữa bệnh cho rất nhiều người.

Khi học tiểu học, tôi đi ngang Chùa Giác Nguyên thấy phật tử chặt, băm cành cây thành mảnh nhỏ, phơi khô, gói làm thang thuốc, chữa bố thí cho người nghèo.

Mẹ tôi, bà Bảy Mụ, Thầy Năm Chích, các phật tử chùa Giác Nguyên... thảy đều không phải là bác sĩ nhưng đã chữa bệnh cho tôi và mọi người xung quanh. Họ chính là những "Thầy Thuốc Nhân Dân".

Thầy Lang

Thời học trung học phổ thông ở trường Ten Lơ Man, đối diện trường là rạp hát Đại Nam chiếu phim xi nê. Tôi nhớ một bộ phim tên là "Thầy Lang". Không nhớ rõ chi tiết câu chuyện, chỉ nhớ sơ sơ rằng có một vị giáo sư y khoa bị mất trí nhớ đi lang thang rày đây mai đó. Nhìn ông rất xộc xệch và chán đời. Trong quá trình lang thang như vậy ông thường chữa bệnh cho những người nghèo mà không lấy phí. Không ai biết ông là vị giáo sư nổi tiếng. Một hôm ông gặp 1 cô gái mù. Thầy Lang đó đã dùng những dụng cụ nhà bếp như nồi nước sôi, dao chặt thịt, búa... để mổ sọ cho bệnh nhân. May thay, bệnh nhân được sáng mắt. Và hay thay đó lại chính là con gái của ông ta.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
(Ảnh trong phim Thầy Lang. Người bên phải là nhân vật chính.)

Khi tôi học y khoa, các Thầy dạy ngoại khoa kể về chuyện dùng nước dừa xiêm để truyền dịch cho lính thương binh. Không có huyết thanh, nhưng có kiến thức, các Thầy đã cứu sống nhiều thương bệnh binh bằng cách đó.

Các vị Thầy kể trên đã vận dụng trí não của mình để biến những thứ có sẵn xung quanh làm phương tiện cứu chữa bệnh nhân trong những điều kiện khó khăn.

Suy cho cùng, hành xử của Thầy Thuốc dựa vào cái Tâm và cái Trí. Tâm thôi thúc thầy thuốc hành động trước nỗi đau của người khác. Trí giúp thầy thuốc vận dụng bất cứ những gì xung quanh để làm phương tiện chữa trị hữu hiệu. Thiếu Tâm thì chẳng muốn giúp ai. Thiếu Trí thì chẳng thể giúp người hiệu quả.


Quan Đốc Tờ
Bác sĩ trước đây được gọi là "Quan Đốc Tờ" hay "Quan Đốc"
Các Quan Đốc Tờ này được học hành bài bản để trở thành thầy thuốc có chứng nhận đào tạo. Dĩ nhiên, người được đào tạo bài bản phải biết nhiều và chữa bệnh hiệu quả hơn người tay ngang.

Quan Đốc Tờ ngày xưa uy nghiêm trong phong thái, tận tâm tận lực trong công việc, ăn năn khi lỡ gây ra sai sót, hổ thẹn khi kiến thức không đến nơi.
Có một vị Thầy ở bệnh viện Huyết Học, đầu đã bạc trắng. Thầy dấn thân trong sự nghiệp chữa ung thư máu. Thầy than thở với sinh viên rằng đã đến cuối đời rồi mà chẳng cứu giúp được cho nhiều người. Chứng bệnh ung thư ác nghiệt kia đè nặng lên tâm tư người Thầy Thuốc mong muốn tận hiến cuộc đời cho bệnh nhân. Đến nay căn bệnh ung thư chưa có bước điều trị đột phá nên hoài bão cứu người của Thầy không thành hiện thực.

Ngày nay cũng có nhiều Quan Đốc Tờ với nhiều học vị, bằng cấp. Khá nhiều vị đã vượt qua khỏi cái nghĩa Đốc Tờ là Bác Sĩ, họ khẳng định cái học vị Đốc Tờ phải có nghĩa là Tiến Sĩ. Và hơn thế nữa, phải là “Phó Giáo Sư - Tiến sĩ - Bác sĩ” như thế kia thì mới khẳng định vị thế. Có vị học chưa đến đâu cũng ráng tìm cách được chứng nhận “tương tương tiến sĩ” để in danh thiếp cho đẹp. Và không ít bằng cấp, học vị được mua bằng vài trăm triệu.

Những cái bằng cấp đó như tấm thảm bay, nâng quan đốc tờ vào những hàng ghế quản lý, lãnh đạo đầy danh vọng và tiền bạc. Về thực chất thì những vị quan này không hề có tí kiến thức chuyên môn để giúp đời. Người ta nói đùa, các vị quan đốc đó khi chết đi, mang giải phẫu tử thi thì phát hiện ra rằng họ không có tim và óc.

Thầy lang băm?

Đọc báo thấy có một ông Tiến sĩ vật lý tên Khải, là dân “y khoa ngoại đạo”, lại xắn tay vào việc chữa bệnh cho trẻ em. Ông ta xót cho 143 trẻ bị chết vì bệnh Tay Chân Miệng mà bên y tế cứ lờ đi như không có gì,nên đề xuất dùng Anolyt để chữa trị cho các cháu. 

Một số Quan đốc gọi vị này là "Lang Băm", không có kiến thức mà cũng đòi chữa bệnh.

Dưới mắt của tôi thì ông này có Tâm. Ông đau xót trước cảnh trẻ em bị mắc bệnh và chết mà không có ai của ngành y tế giúp đỡ một cách hiệu quả.

Dưới mắt cùa tôi thì ông này có Trí. Cái trí của ông không phải là kiến thức y khoa được đào tạo bài bản. Cái trí của ông chỉ cỡ bằng Mẹ tôi, bà Mụ Vườn, thầy Năm Chích... chỉ cần hiểu rằng diệt được mầm bệnh là ngăn được bệnh. Và hành vi của ông ta tương đương với Thầy Lang trong bộ phim xi nê hay của các vị Thầy quân y trong thời chiến.

Chẳng thể nào ngăn chặn bàn tay của người mẹ cạo gió cho con, chẳng thể nào ngăn chặn bà mụ vườn đỡ đẻ cho sản phụ. Thế nhưng người ta đã ngăn chặn bàn tay của ông Thầy Lang Băm kia.

Rủi mà phương pháp của ông thành công thì mấy mảnh bằng của các vị Quan Đốc Tờ bị vứt vào sọt rác.

Hội Đông y TP Hội An,

HƯỚNG VỀ NGÀY THẦY THUỐC VIỆT NAM 27/2/1955 - 27/2/2016

Xuân lại về,vạn vật sinh trưởng,hòa trong không khí vui tươi lành mạnh,hội Đông y Tp Hội An thời gian vừa qua cũng đã thực hiện những việc cụ thể nhưTế xuân,Thăm hỏi chúc tết ,đặc biệt là tổ chức thành công lễ Dâng Hương Tưởng Niệm Đại Y Tôn Hải Thượng Lãn Ông -LÊ HỮU TRÁC tròn 225 năm ngày mất của y Tổ
.Nay hướng về ngày Thầy Thuốc Việt Nam 27/21955-27/2/2016.kỷ niệm 61 năm , ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi Hội nghị cán bộ ngành y tế nhằm tôn vinh các y, bác sĩ và những người đang làm việc trong ngành y tế.
Nhân dịp này Hội Đông Y Thành phố Hội an xin gửi lời chúc mừng đến với những người đang phục vụ trong ngành y tế. chúc mọi người luôn Hạnh Phúc và xứng danh ''Lương Y như từ mẫu''.
Một số hình ảnh hoạt động vừa qua.
Đại diện Lãnh đạoTP Hội An ,tăng hoa chúc mừng'' Ngày Thầy Thuốc Việt Nam''


Ảnh lưu niệm các thành viên trong Ban chấp hành

Thêm chú thích